Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Thu hồi tài sản qua hoạt động thanh tra trong kỷ nguyên tài sản số

Bài 2 - Yêu cầu hoàn thiện cơ chế thu hồi tài sản số trong hoạt động thanh tra

Trần Thị Thúy, Trưởng Phòng NC&HTPT - Đào Thảo Ly, Giảng viên, Trường Cán bộ Thanh tra

Thứ sáu, 09/10/2026 - 16:00

(Thanh tra) - Trọng tâm hoàn thiện thể chế là bổ sung tài sản số vào toàn bộ chuỗi thu hồi; quy định biện pháp bảo toàn khẩn cấp; chuẩn hóa chứng cứ điện tử và định giá; tổ chức lưu ký chuyên nghiệp; thiết lập đầu mối phối hợp liên tục với cơ quan phòng, chống rửa tiền.

Cán bộ ngành Thanh tra bồi dưỡng kiến thức chuyển đổi số. Ảnh: V.Hùng

Sự xuất hiện của tài sản mã hóa không tạo ra một mục tiêu thu hồi hoàn toàn mới; nó làm bộc lộ rõ hơn các hạn chế vốn có của cơ chế thu hồi tài sản. Nếu pháp luật chỉ nhìn vào hình thức hiện tại của tài sản, lợi ích bất hợp pháp có thể được chuyển đổi để thoát khỏi quyết định. Vì vậy, đối tượng thu hồi phải được xác định theo nguồn gốc và quyền kiểm soát, bao gồm tài sản nguyên gốc, tài sản chuyển hóa, lợi ích phát sinh và giá trị tương đương trong giới hạn do luật định.

Trong nghiên cứu và thực tiễn, các thuật ngữ “tiền ảo”, “tiền mã hóa”, “tài sản ảo”, “tài sản mã hóa” thường bị sử dụng thay thế cho nhau. Cách dùng này dễ tạo ra nhầm lẫn về bản chất pháp lý. “Tiền” gợi đến phương tiện thanh toán do Nhà nước công nhận, trong khi nhiều loại mã thông báo chỉ thể hiện một giá trị, quyền hoặc lợi ích có thể được tạo lập, lưu trữ và chuyển giao bằng công nghệ số. Vì vậy, trong hoạt động thanh tra và thu hồi, “tài sản mã hóa” nên được dùng làm thuật ngữ pháp lý chính; “tiền ảo” chỉ nên xuất hiện khi phản ánh cách gọi phổ biến hoặc thuật ngữ của một văn bản, tổ chức quốc tế cụ thể.

Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, lần đầu thiết lập khung pháp lý về tài sản số, trong đó có tài sản mã hóa và tài sản ảo. Tài sản số được tiếp cận là tài sản theo pháp luật dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số và được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao, xác thực bằng công nghệ số. Tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ có chức năng tương tự để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao; không bao gồm chứng khoán, dạng số của tiền pháp định và các tài sản tài chính khác đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh. Việc công nhận thuộc tính tài sản là tiền đề cần thiết để xác lập quyền sở hữu, nghĩa vụ kê khai, định giá và thu hồi, nhưng chưa tự động giải quyết thẩm quyền cưỡng chế hoặc phương thức quản lý.

Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 của Chính phủ triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa, đặt ra khuôn khổ đối với chào bán, phát hành, tổ chức giao dịch và cung cấp dịch vụ. Nghị định số 284/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này. Những bước tiến đó tạo thêm các chủ thể có trách nhiệm nhận biết khách hàng, lưu giữ dữ liệu, giám sát và báo cáo. Tuy nhiên, khuôn khổ quản lý thị trường và khuôn khổ thu hồi tài sản theo quyết định thanh tra hoặc tố tụng vẫn cần được kết nối bằng quy trình cụ thể.

Nhìn từ yêu cầu thu hồi, 5 nhóm vấn đề được nhận diện trong nghiên cứu về quản lý tài sản số ở Việt Nam gồm địa vị pháp lý của từng loại tài sản, quản lý rủi ro và bảo vệ nhà đầu tư, phòng chống rửa tiền, quản lý thuế, cùng năng lực giám sát và phân tích dữ liệu. Đây không phải các mảng chính sách tách rời chuỗi thu hồi. Địa vị pháp lý quyết định đối tượng và quyền có thể thu hồi; dữ liệu nhận biết khách hàng và báo cáo giao dịch tạo đầu mối truy vết; thông tin thuế giúp phát hiện phần thu nhập hoặc nghĩa vụ bị che giấu; còn năng lực giám sát kỹ thuật quyết định tốc độ bảo toàn tài sản.

Quản lý thị trường tài sản số và thu hồi tài sản có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Cấp phép, công bố thông tin, nhận biết khách hàng, lưu giữ dữ liệu và báo cáo giao dịch là các biện pháp quản lý trước và trong giao dịch. Thu hồi tài sản là cơ chế xử lý sau khi đã xuất hiện căn cứ pháp lý cụ thể, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải truy cập được dữ liệu, xác định đúng tài sản, áp dụng biện pháp bảo toàn và chuyển giao tài sản theo thủ tục có thể kiểm tra. Nếu pháp luật chỉ đặt nghĩa vụ tuân thủ cho doanh nghiệp mà không quy định định dạng dữ liệu, thời hạn phản hồi, đầu mối tiếp nhận và hiệu lực của yêu cầu khẩn cấp thì thông tin có thể tồn tại nhưng không được chuyển hóa kịp thời thành kết quả thu hồi.

Quản lý thuế là ví dụ rõ về yêu cầu phân loại căn cứ thu hồi. Khoản thuế chưa nộp, tiền phạt vi phạm hành chính, tài sản Nhà nước bị chiếm đoạt và tiền do phạm tội mà có là các nghĩa vụ hoặc đối tượng xử lý khác nhau. Việc phát hiện lợi nhuận từ giao dịch tài sản mã hóa chưa kê khai có thể làm phát sinh nghĩa vụ thuế, nhưng không mặc nhiên cho phép coi toàn bộ số dư trong ví là tài sản bất hợp pháp. Kết luận thanh tra phải xác định riêng căn cứ tính thuế, phần nghĩa vụ phải nộp, khoản lợi ích bất hợp pháp, tài sản cần bảo toàn và cơ chế tổ chức thi hành tương ứng.

Đẩy mạnh chuyển đổi số, tạo chuyển biến trong hoạt động của các đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ. Ảnh: Q.Huy

Yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư cũng phải được đặt trong từng quyết định thu hồi. Tài sản tại tổ chức lưu ký có thể được quản lý theo ví tổng, có quyền lợi của nhiều khách hàng hoặc đang là đối tượng của giao dịch chưa hoàn tất. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ đối soát sổ phụ, tách phần tài sản thuộc người có nghĩa vụ, ghi nhận quyền của người thứ ba và duy trì khả năng truy nguyên sau khi phong tỏa hoặc chuyển sang ví lưu ký nhà nước. Cách làm này vừa hạn chế thu hồi vượt quá phạm vi, vừa nâng khả năng quyết định được công nhận và thi hành.

Một ví dụ thực tiễn đáng chú ý là Giải pháp MIMO của Công ty Cổ phần Dragon Lab. Theo Giấy phép số 1724/GP-SKHCN ngày 18/12/2025 của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng, MIMO được thử nghiệm có kiểm soát đối với hoạt động trung gian chuyển đổi USDT sang tiền pháp định (VNĐ) và ngược lại theo cơ chế không lưu ký. Phạm vi thử nghiệm được giới hạn tại ba địa điểm ở Đà Nẵng, trong thời hạn 36 tháng, từ ngày 18/12/2025 đến ngày 17/12/2028.

Thông tin do Dragon Lab công bố cho thấy mô hình không lưu ký không trao cho doanh nghiệp quyền nắm giữ khóa riêng tư, cụm từ khôi phục, ví blockchain hoặc tài sản số của người dùng. Chính sách bảo mật của MIMO đồng thời nêu khả năng xử lý dữ liệu định danh điện tử, địa chỉ ví công khai, mã giao dịch, thời gian, số lượng, trạng thái giao dịch, địa chỉ IP, thông tin thiết bị và nhật ký hệ thống trong phạm vi pháp luật cho phép hoặc theo yêu cầu hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền. Trang giới thiệu sản phẩm cũng cho biết các giao dịch chuyển đổi được xuất hóa đơn điện tử. Nếu được thu thập và kiểm chứng đúng thủ tục, các dữ liệu này có thể hỗ trợ nối danh tính ngoài chuỗi, phần thanh toán bằng VNĐ và dấu vết giao dịch trên chuỗi.

Trường hợp MIMO cho thấy một điểm phân biệt quan trọng trong thu hồi tài sản mã hóa. Yêu cầu cung cấp và bảo toàn dữ liệu gửi đến đơn vị vận hành ứng dụng có thể hỗ trợ xác định người dùng, địa chỉ ví và lịch sử chuyển đổi; nhưng do cơ chế không lưu ký, yêu cầu đó không mặc nhiên làm phát sinh khả năng phong tỏa hoặc chuyển tài sản. Muốn bảo toàn tài sản, cơ quan có thẩm quyền còn phải xác định chủ thể đang kiểm soát khóa, ví đích, ngân hàng hoặc đối tác thanh toán liên quan và căn cứ pháp lý cho từng biện pháp. Vì vậy, quy trình nghiệp vụ cần tách rõ ba loại yêu cầu: bảo toàn dữ liệu, hạn chế giao dịch trong phạm vi hệ thống và kiểm soát thực tế đối với tài sản.

Giấy phép thử nghiệm cũng không nên được diễn giải thành sự công nhận chung đối với mọi hoạt động chuyển đổi tài sản mã hóa trên toàn quốc. Khi sử dụng dữ liệu phát sinh từ mô hình thử nghiệm, cơ quan thanh tra phải kiểm tra đúng thời gian, địa điểm, loại tài sản, chủ thể và điều kiện được cấp phép; đồng thời phân biệt thông tin do doanh nghiệp tự công bố với dữ liệu đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm chứng.

Sổ cái phân tán có thể ghi lại công khai địa chỉ, thời điểm, số lượng và đường đi của giao dịch. Dữ liệu này hỗ trợ lần theo dòng tài sản, nhưng một địa chỉ ví không tự chứng minh danh tính người kiểm soát. Kết luận pháp lý phải dựa trên tổng hợp chứng cứ: dữ liệu nhận biết khách hàng tại tổ chức cung cấp dịch vụ; thiết bị và tệp ví; thư điện tử, tin nhắn, địa chỉ IP; nguồn tiền mua tài sản; lịch sử rút nạp; hành vi sử dụng khóa; và quan hệ giữa các ví. Phân tích chuỗi là công cụ tạo đầu mối và củng cố chứng cứ, không thay thế nghĩa vụ chứng minh.

Dòng tài sản còn có thể đi qua ví tự quản, giao thức tài chính phi tập trung, cầu nối giữa các chuỗi, dịch vụ trộn hoặc mã thông báo tăng cường tính riêng tư. Một giao dịch có thể được chia nhỏ, hoán đổi nhiều lần hoặc chuyển sang chuỗi khác trước khi cơ quan có thẩm quyền gửi yêu cầu. FATF tiếp tục coi ví tự quản, nhà cung cấp ở nước ngoài, tài chính phi tập trung và việc thực hiện không đồng đều quy tắc chuyển tiền là các khoảng trống đáng chú ý trong năm 2026. Điều này cho thấy thu hồi tài sản mã hóa phụ thuộc vào tốc độ phối hợp giữa phân tích kỹ thuật, quyết định pháp lý và hành động của tổ chức cung cấp dịch vụ.

Cơ quan thanh tra có lợi thế ở khâu phát hiện ban đầu. Dấu hiệu tài sản mã hóa có thể xuất hiện trong sao kê chuyển tiền đến tổ chức cung cấp dịch vụ, chi phí mua thiết bị lưu trữ, dữ liệu trình duyệt, mã QR địa chỉ ví, tài khoản trên sàn, hợp đồng đầu tư, hồ sơ thuế, kê khai tài sản thu nhập hoặc giao dịch không phù hợp với hoạt động của đơn vị. Khi những dấu hiệu này liên quan đến tài sản Nhà nước bị chiếm đoạt, sử dụng trái pháp luật hoặc thất thoát, đoàn thanh tra phải ghi nhận đầy đủ và đánh giá ngay nguy cơ chuyển dịch.

Tuy nhiên, cơ quan thanh tra không nên tự thực hiện các thao tác kỹ thuật có thể làm thay đổi dữ liệu hoặc phát sinh giao dịch nếu chưa có căn cứ, thẩm quyền và năng lực bảo quản phù hợp. Việc yêu cầu cung cấp cụm từ khôi phục, truy cập ví, chuyển thử tài sản hoặc kết nối thiết bị vào mạng có thể làm mất chứng cứ, kích hoạt phần mềm độc hại hoặc tạo điều kiện cho giao dịch từ xa. Vai trò phù hợp của thanh tra là nhận diện, bảo toàn hiện trạng, lập biên bản, niêm phong đúng kỹ thuật, thu thập thông tin nhận dạng và chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi có dấu hiệu tội phạm.

Do đó, tiêu chuẩn hồ sơ chuyển giao cần bổ sung một phụ lục về tài sản số gồm: địa chỉ ví và chuỗi tương ứng; mã giao dịch; loại tài sản; thời điểm và giá trị quy đổi; tổ chức cung cấp dịch vụ có liên quan; thông tin thiết bị; người có khả năng kiểm soát khóa; sơ đồ dòng tài sản; ảnh chụp hoặc bản xuất dữ liệu có giá trị kiểm chứng; và biên bản về chuỗi bảo quản. Mỗi dữ liệu phải ghi rõ nguồn, người thu thập, thời điểm, phương pháp và mã kiểm tra tính toàn vẹn.

Khi tài sản nằm ở Việt Nam nhưng có chủ thể nước ngoài, cơ quan thanh tra vẫn có thể áp dụng pháp luật Việt Nam trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời phải tôn trọng điều ước quốc tế, quyền của nhà đầu tư và người thứ ba. Tình huống thay đổi căn bản khi tài khoản, bất động sản, cổ phần, tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc người nắm khóa nằm ngoài lãnh thổ. Cơ quan thanh tra Việt Nam không thể trực tiếp ra lệnh cho ngân hàng, sàn giao dịch hoặc cơ quan cưỡng chế của quốc gia khác. Quyết định thu hồi trong thanh tra là cơ sở quan trọng, nhưng thường không tự tạo ra hiệu lực cưỡng chế ở nước ngoài.

Chương V Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng coi thu hồi tài sản là một nguyên tắc cơ bản và xây dựng hệ thống nghĩa vụ về phòng ngừa, phát hiện, hợp tác, tịch thu và hoàn trả tài sản. Khuôn khổ này đặc biệt phù hợp với tài sản mã hóa, vì nơi đặt máy chủ, nơi thành lập doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, nơi cư trú của người kiểm soát và trạng thái của sổ cái có thể không trùng nhau. Nước được yêu cầu vẫn áp dụng pháp luật của mình và có thể đòi hỏi quyết định tư pháp, bản án có hiệu lực hoặc chứng cứ cụ thể về mối liên hệ giữa tài sản và hành vi phạm tội.

Bà Trần Thị Thúy, Trưởng Phòng NC&HTPT, Trường Cán bộ Thanh tra tham dự một cuộc Hội thảo nghiên cứu khoa học. Ảnh: V.Hùng

Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tạo khung pháp lý mới cho yêu cầu và thực hiện tương trợ giữa Việt Nam với nước ngoài. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan trung ương, thống nhất quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; phạm vi tương trợ bao gồm các hoạt động phục vụ truy tìm, khám xét, thu giữ, tịch thu, hoàn trả và xử lý tài sản theo quy định. Đây là cầu nối bắt buộc trong nhiều trường hợp tài sản tham nhũng hoặc tài sản mã hóa đã được chuyển ra nước ngoài.

Tương trợ tư pháp về hình sự không phải là phần kéo dài tự động của cuộc thanh tra. Để sử dụng cơ chế này, vụ việc phải được đặt trong khuôn khổ hình sự và yêu cầu phải do chủ thể có thẩm quyền lập. Vì vậy, ngay trong quá trình thanh tra, cần chuẩn bị dữ liệu theo chuẩn có thể chuyển hóa: thông tin nhận dạng cá nhân và pháp nhân; tài khoản, địa chỉ ví và mã giao dịch; quốc gia hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan; sơ đồ dòng tiền; căn cứ xác định tài sản; mức độ khẩn cấp; và biện pháp đề nghị. Hồ sơ thiếu một mắt xích có thể làm mất thời gian hoặc khiến cơ quan nước ngoài không đủ căn cứ phong tỏa.

Trong môi trường tài sản mã hóa, kênh tương trợ tư pháp chính thức cần được chuẩn bị song song với hợp tác nghiệp vụ sớm. Mạng lưới thu hồi tài sản, đơn vị tình báo tài chính, đầu mối thực thi pháp luật và tổ chức cung cấp dịch vụ có thể hỗ trợ xác minh nhanh nơi đăng ký tài khoản, trạng thái tài sản và yêu cầu bảo toàn tự nguyện trong phạm vi pháp luật. Trao đổi nghiệp vụ không thay thế quyết định phong tỏa hoặc yêu cầu tương trợ, nhưng có thể giúp xác định đúng quốc gia, đúng pháp nhân và đúng loại biện pháp trước khi gửi hồ sơ chính thức.

Cơ chế phối hợp công tư phải có giới hạn rõ ràng. Tổ chức cung cấp dịch vụ chỉ được cung cấp dữ liệu, phong tỏa hoặc chuyển giao tài sản theo căn cứ pháp luật và yêu cầu hợp lệ; cơ quan Nhà nước phải bảo đảm bí mật, mục đích sử dụng và trách nhiệm giải trình. Một đầu mối hoạt động liên tục, mẫu yêu cầu bảo toàn khẩn cấp và danh bạ pháp lý của các nhà cung cấp lớn sẽ giảm đáng kể độ trễ, nhất là khi giao dịch diễn ra ngoài giờ hành chính hoặc qua nhiều múi giờ.

Thực tiễn quốc tế cho thấy cơ chế thu hồi không qua kết án có thể hữu ích khi người vi phạm đã chết, bỏ trốn, vắng mặt, được hưởng miễn trừ hoặc không thể bị truy tố vì lý do khách quan. Điều 54 khoản 1 điểm c Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng khuyến nghị các quốc gia xem xét cho phép tịch thu không dựa trên bản án kết tội trong những trường hợp người phạm tội không thể bị truy tố. Hướng dẫn của Sáng kiến Thu hồi tài sản bị đánh cắp của Ngân hàng Thế giới và UNODC nhấn mạnh đây là công cụ quan trọng, nhưng phải được thiết kế như một thủ tục pháp lý chặt chẽ, xác định rõ quan hệ với vụ án hình sự và bảo vệ quyền của người có liên quan.

Đối với Việt Nam, đây nên là hướng nghiên cứu thận trọng, không phải giải pháp thay thế cho nghĩa vụ chứng minh. Một cơ chế phù hợp cần đặt dưới sự kiểm soát của Tòa án; yêu cầu Nhà nước đưa ra chứng cứ ban đầu đủ thuyết phục về nguồn gốc bất hợp pháp; cho phép người có tài sản phản biện và giải trình; bảo vệ người thứ ba ngay tình; và có cơ chế bồi thường khi áp dụng sai. Nếu thiếu các bảo đảm này, mục tiêu thu hồi tài sản có thể xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội.

Trước hết, cần xây dựng một chương hoặc nhóm quy định thống nhất về thu hồi tài sản qua hoạt động thanh tra, thay vì để các mắt xích phân tán ở nhiều văn bản. Pháp luật cần định nghĩa hoặc hướng dẫn thống nhất các khái niệm: tài sản phải thu hồi; tài sản thay thế; tài sản trộn lẫn; lợi ích phát sinh; chủ sở hữu hưởng lợi; người thứ ba ngay tình; kiến nghị thu hồi; quyết định thu hồi; hoàn trả và bồi thường. Mỗi cơ chế phải gắn với điều kiện áp dụng, chủ thể có thẩm quyền, thời hạn, biện pháp bảo đảm và con đường khiếu nại.

Đồng thời, cần quy định rõ cách xử lý khi tài sản nguyên gốc không còn hoặc đã được chuyển đổi sang tài sản số. Nếu chỉ cho phép thu hồi đúng vật hoặc đúng khoản tiền đã bị chiếm giữ, người vi phạm có thể vô hiệu hóa việc thu hồi bằng cách chuyển hóa tài sản. Pháp luật nên nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản thay thế hoặc giá trị tương đương trong giới hạn hợp lý, với điều kiện chứng minh được lợi ích bất hợp pháp và bảo vệ phần tài sản hợp pháp. Khái niệm “tài sản” trong quy định thu hồi phải bao quát địa chỉ ví, tài khoản tại tổ chức cung cấp dịch vụ, mã thông báo và quyền phát sinh gắn với tài sản mã hóa.

Cần ban hành quy trình liên ngành về chuyển vụ việc có dấu hiệu tội phạm từ thanh tra sang điều tra. Quy trình phải xác định thời hạn báo cáo, tiếp nhận và phản hồi; thành phần hồ sơ; trách nhiệm bảo quản chứng cứ; phương thức trao đổi thông tin mật; và đầu mối xử lý khi có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp. Cơ quan tiếp nhận không nên chỉ xác nhận đã nhận hồ sơ mà phải thông báo kết quả phân loại, biện pháp đã áp dụng hoặc lý do không áp dụng trong thời hạn luật định.

Song song với đó, cần xây dựng cơ chế “đóng băng thời gian” đối với tài sản có nguy cơ tẩu tán. Riêng với tài sản mã hóa, quy trình phải cho phép gửi yêu cầu bảo toàn khẩn cấp đến tổ chức cung cấp dịch vụ, xác định nhanh địa chỉ đích và chuyển tài sản sang ví lưu ký do Nhà nước kiểm soát khi có quyết định hợp pháp. Biện pháp khẩn cấp phải dựa trên đánh giá rủi ro cụ thể, có phạm vi và thời hạn xác định, được rà soát định kỳ và chịu kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền.

Mỗi hồ sơ thu hồi nên có một bộ tài liệu tối thiểu gồm: bảng xác định tài sản; căn cứ quyền sở hữu; bảng tính giá trị; sơ đồ dòng tiền; tài liệu về người đứng tên và chủ sở hữu hưởng lợi; thông tin về quyền của bên thứ ba; đánh giá nguy cơ tẩu tán; dự thảo phương án xử lý; và kế hoạch theo dõi thi hành. Kết luận thanh tra phải phân tách rõ phần nhận định, căn cứ pháp luật, quyết định hoặc kiến nghị, chủ thể thực hiện và thời hạn.

Đối với tài sản cần định giá, cần quy định thời điểm định giá, phương pháp, tổ chức thực hiện và cách xử lý biến động giá. Với tài sản mã hóa, hồ sơ nên ghi đồng thời số lượng đơn vị tài sản, loại chuỗi, giá tham chiếu, nguồn dữ liệu, thời điểm và tỷ giá quy đổi; không nên chỉ ghi một số tiền quy đổi có thể nhanh chóng mất ý nghĩa. Sai số định giá không chỉ ảnh hưởng số phải thu hồi mà còn có thể làm thay đổi thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý của các bên.

Cần ban hành quy trình thống nhất từ khi phát hiện đến khi xử lý cuối cùng đối với tài sản mã hóa. Quy trình nên phân biệt rõ bảo toàn dữ liệu, thu giữ thiết bị, kiểm soát khóa, chuyển tài sản, lưu ký, định giá và bán hoặc hoàn trả. Mỗi thao tác phải có ít nhất hai người được phân quyền, nhật ký không thể sửa đổi, xác nhận độc lập và phương án khôi phục khi có sự cố. Khóa bí mật và cụm từ khôi phục không được lưu cùng một địa điểm hoặc do một cá nhân toàn quyền kiểm soát.

Về tổ chức, cần giao một đầu mối chuyên trách quản lý tài sản mã hóa đã bị phong tỏa, thu giữ hoặc thu hồi, thay vì để từng Đoàn thanh tra hay cơ quan vụ việc tự thiết lập ví và quy trình. Đầu mối này có thể sử dụng cơ chế đa chữ ký, lưu trữ ngoại tuyến, kiểm toán định kỳ và bảo hiểm rủi ro phù hợp. Pháp luật cũng phải quy định nguyên tắc xử lý biến động giá, thời điểm thanh lý, chi phí giao dịch, tài sản phát sinh từ chia tách chuỗi hoặc đặt cược và trách nhiệm khi tài sản mất giá do chậm xử lý.

Mỗi khoản thu hồi cần có một mã theo dõi và một cơ quan, cá nhân chịu trách nhiệm điều phối đến khi kết thúc. Hệ thống quản lý phải ghi nhận trạng thái: đã xác định; đã ban hành quyết định; đã áp dụng biện pháp bảo toàn; đã nộp; đã tiếp nhận; đã xử lý; đang khiếu nại; hoặc đã chuyển sang tố tụng. Cơ chế này giúp loại bỏ tình trạng hồ sơ “đã kiến nghị” nhưng không rõ đang ở đâu và ai chịu trách nhiệm.

Chỉ tiêu đánh giá cần ưu tiên tỷ lệ thực thu trên số có điều kiện thi hành, thời gian trung bình, số tài sản được bảo toàn trước khi chuyển dịch, số vụ được phối hợp kịp thời và chi phí quản lý. Người đứng đầu phải giải trình khi chậm chuyển hồ sơ, không đôn đốc, để tài sản bị tẩu tán hoặc không xử lý an toàn tài sản đã thu hồi.

Cần ban hành quy chế phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án, cơ quan thi hành án, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước và cơ quan phòng, chống rửa tiền. Quy chế phải phân định cơ quan chủ trì theo từng giai đoạn, thời hạn phản hồi, chế độ tham vấn đối với vụ việc phức tạp và cơ chế giải quyết ý kiến khác nhau.

Về dữ liệu, cần xây dựng nền tảng truy dấu tài sản có khả năng kết nối thông tin đăng ký doanh nghiệp, chủ sở hữu hưởng lợi, đất đai, phương tiện, thuế, hải quan, tài khoản, giao dịch đáng ngờ và dữ liệu từ tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa trong khuôn khổ pháp luật. Cơ quan thanh tra cần được trang bị công cụ phân tích chuỗi ở mức phù hợp và cơ chế yêu cầu hỗ trợ chuyên gia đối với vụ việc phức tạp. Quyền truy cập phải theo vai trò, có nhật ký, được kiểm tra và gắn với trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật điều tra, bí mật ngân hàng và dữ liệu cá nhân.

Đối với các giải pháp được thử nghiệm có kiểm soát như MIMO, giấy phép và quy chế thử nghiệm cần chuẩn hóa ngay từ đầu danh mục dữ liệu phải lưu giữ, thời hạn lưu giữ, định dạng xuất dữ liệu, đầu mối tiếp nhận yêu cầu khẩn cấp và cơ chế kiểm tra tính toàn vẹn. Yêu cầu này đặc biệt cần thiết đối với mô hình không lưu ký, bởi dữ liệu định danh và nhật ký giao dịch có thể là đầu mối quan trọng dù đơn vị vận hành không nắm giữ tài sản.

Trước mắt, cần ban hành bộ mẫu yêu cầu tương trợ tư pháp về truy tìm, phong tỏa, thu giữ, tịch thu và hoàn trả tài sản; kèm danh mục kiểm tra về thẩm quyền ký, tội danh, chứng cứ, bản dịch, yêu cầu bảo mật và thời hạn. Cơ chế tham vấn sớm giữa cơ quan lập yêu cầu với Viện kiểm sát nhân dân tối cao giúp hạn chế việc hồ sơ phải bổ sung nhiều lần.

Về tổ chức, cần hình thành nhóm chuyên gia liên ngành về thu hồi tài sản xuyên biên giới, có năng lực về điều tra tài chính, phân tích chuỗi, pháp luật nước ngoài, điều ước quốc tế, ngoại ngữ và quản lý tài sản mã hóa. Mỗi quốc gia hoặc nhóm quốc gia trọng điểm nên có hồ sơ hướng dẫn thực hành về đầu mối, yêu cầu chứng cứ, hình thức quyết định được công nhận, cơ chế liên hệ với tổ chức cung cấp dịch vụ, ngôn ngữ, chi phí và thời hạn. Cách làm này chuyển hợp tác quốc tế từ phản ứng vụ việc sang năng lực thường trực.

Hiệu quả thu hồi tài sản không đối lập với bảo vệ quyền con người; ngược lại, thủ tục công bằng là điều kiện để quyết định được chấp nhận và có khả năng thi hành, nhất là ở nước ngoài. Pháp luật cần quy định rõ nghĩa vụ thông báo, quyền tiếp cận căn cứ, quyền giải trình, quyền khiếu nại hoặc khởi kiện, thời hạn giải quyết và bồi thường khi quyết định trái pháp luật gây thiệt hại.

Tiêu chí xác định người thứ ba ngay tình cần dựa trên thời điểm giao dịch, giá trị đối ứng, mức độ biết hoặc phải biết về nguồn gốc tài sản và việc tuân thủ nghĩa vụ thẩm tra. Không thể chỉ dựa vào quan hệ thân nhân để suy đoán, nhưng cũng không thể coi hợp đồng và đăng ký hình thức là đủ để cắt đứt mối liên hệ với tài sản vi phạm. Cơ chế chứng minh phải tạo điều kiện cho cả Nhà nước và người có quyền lợi liên quan trình bày chứng cứ trước một cơ quan độc lập.

Điều kiện cấp phép và vận hành đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa cần được thiết kế đồng thời cho mục tiêu quản lý thị trường và thu hồi tài sản. Nghĩa vụ nhận biết khách hàng, xác định chủ sở hữu hưởng lợi, lưu giữ lịch sử giao dịch, báo cáo giao dịch đáng ngờ và cung cấp dữ liệu theo yêu cầu hợp pháp phải đi kèm chuẩn dữ liệu thống nhất, thời hạn phản hồi theo mức độ khẩn cấp và cơ chế xác nhận việc đã bảo toàn dữ liệu hoặc tài sản. Đối với mô hình không lưu ký, pháp luật cần nói rõ giới hạn kỹ thuật của nhà cung cấp để cơ quan yêu cầu không nhầm giữa khả năng cung cấp dấu vết và khả năng phong tỏa tài sản.

Cơ chế thuế và phòng chống rửa tiền cần hỗ trợ phát hiện sớm mà không thay thế căn cứ ra quyết định thu hồi. Dữ liệu chuyển đổi giữa tài sản mã hóa và tiền pháp định, hóa đơn điện tử, tài khoản ngân hàng, báo cáo giao dịch đáng ngờ và thông tin kê khai thuế nên được đối chiếu theo tiêu chí rủi ro, trong phạm vi thẩm quyền và mục đích đã được pháp luật xác định. Cơ quan thanh tra chỉ sử dụng thông tin này để lập bản đồ tài sản, xác định nghĩa vụ và kiến nghị biện pháp phù hợp; việc phong tỏa, tịch thu hoặc chuyển giao tài sản vẫn phải do đúng chủ thể quyết định theo trình tự tương ứng.

Về tổ chức thực hiện, cần có đầu mối liên ngành tiếp nhận yêu cầu khẩn cấp, điều phối giữa cơ quan thanh tra, cơ quan phòng chống rửa tiền, cơ quan thuế, cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý thị trường tài sản mã hóa. Đầu mối này phải duy trì danh bạ pháp lý của các tổ chức cung cấp dịch vụ, quy trình phản hồi ngoài giờ hành chính, hệ thống ghi nhận thời gian xử lý và cơ chế kiểm tra việc sử dụng dữ liệu. Đây là bước chuyển các khuyến nghị về hoàn thiện pháp luật, giám sát và phối hợp liên ngành trong quản lý tài sản số thành năng lực thu hồi có thể vận hành.

Luật Thanh tra năm 2025, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 và cơ chế thí điểm thị trường tài sản mã hóa đã tạo các mảnh ghép quan trọng. Phần còn thiếu là một quy trình liên thông để biến thông tin phát hiện trong thanh tra thành hành động bảo toàn, chứng cứ có thể sử dụng trong tố tụng, yêu cầu hợp tác quốc tế và tài sản được quản lý an toàn. Trong quy trình đó, cơ quan thanh tra giữ vai trò phát hiện sớm, lập bản đồ tài sản, bảo toàn hiện trạng và chuyển giao kịp thời; không thay thế thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử hoặc tương trợ tư pháp.

Trọng tâm hoàn thiện thể chế là bổ sung tài sản số vào toàn bộ chuỗi thu hồi; quy định biện pháp bảo toàn khẩn cấp; chuẩn hóa chứng cứ điện tử và định giá; tổ chức lưu ký chuyên nghiệp; thiết lập đầu mối phối hợp liên tục với cơ quan phòng chống rửa tiền, cơ quan thuế, cơ quan tố tụng, cơ quan quản lý thị trường, tổ chức cung cấp dịch vụ và đối tác nước ngoài; đồng thời duy trì kiểm soát tư pháp và bảo vệ người thứ ba ngay tình. Các nghĩa vụ quản lý thị trường về nhận biết khách hàng, lưu giữ dữ liệu, báo cáo giao dịch, thuế và minh bạch thông tin chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được kết nối với thẩm quyền và quy trình thu hồi cụ thể. Khi những điều kiện này được đáp ứng, thu hồi tài sản qua thanh tra mới theo kịp khả năng dịch chuyển của tài sản trong nền kinh tế số.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Bài 2 - Yêu cầu hoàn thiện cơ chế thu hồi tài sản số trong hoạt động thanh tra

Bài 2 - Yêu cầu hoàn thiện cơ chế thu hồi tài sản số trong hoạt động thanh tra

(Thanh tra) - Trọng tâm hoàn thiện thể chế là bổ sung tài sản số vào toàn bộ chuỗi thu hồi; quy định biện pháp bảo toàn khẩn cấp; chuẩn hóa chứng cứ điện tử và định giá; tổ chức lưu ký chuyên nghiệp; thiết lập đầu mối phối hợp liên tục với cơ quan phòng, chống rửa tiền.

Trần Thị Thúy, Trưởng Phòng NC&HTPT - Đào Thảo Ly, Giảng viên, Trường Cán bộ Thanh tra

16:00 09/10/2026
Bài 1 - Nhận diện “điểm nghẽn” từ thực tiễn thu hồi tài sản qua thanh tra

Bài 1 - Nhận diện “điểm nghẽn” từ thực tiễn thu hồi tài sản qua thanh tra

(Thanh tra) - Thu hồi tài sản có tính cạnh tranh với thời gian. Trong khi cơ quan Nhà nước cần kiểm tra, đối chiếu và hoàn thiện thủ tục, người có ý định tẩu tán chỉ cần một giao dịch điện tử hoặc một hợp đồng chuyển nhượng.

Trần Thị Thúy, Trưởng Phòng NC&HTPT - Đào Thảo Ly, Giảng viên, Trường Cán bộ Thanh tra

08:00 08/10/2026

Tin mới nhất

Xem thêm