Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Thu hồi tài sản qua hoạt động thanh tra trong kỷ nguyên tài sản số

Bài 1 - Nhận diện “điểm nghẽn” từ thực tiễn thu hồi tài sản qua thanh tra

Trần Thị Thúy, Trưởng Phòng NC&HTPT - Đào Thảo Ly, Giảng viên, Trường Cán bộ Thanh tra

Thứ năm, 08/10/2026 - 08:00

(Thanh tra) - Thu hồi tài sản có tính cạnh tranh với thời gian. Trong khi cơ quan Nhà nước cần kiểm tra, đối chiếu và hoàn thiện thủ tục, người có ý định tẩu tán chỉ cần một giao dịch điện tử hoặc một hợp đồng chuyển nhượng.

Sự xuất hiện của tài sản số và tài sản mã hóa làm thay đổi căn bản đối tượng, tốc độ và không gian của thu hồi tài sản. Một khoản lợi ích bất hợp pháp có thể được chuyển từ tiền pháp định sang tài sản mã hóa, qua nhiều ví và giao thức trong thời gian rất ngắn, trong khi chủ thể kiểm soát và hạ tầng cung cấp dịch vụ có thể nằm ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa hình thành đầy đủ quy trình chuyên biệt để nhận diện, bảo toàn, kiểm soát khóa bí mật, định giá, quản lý và xử lý tài sản mã hóa trong chuỗi thu hồi.

Theo số liệu trong báo cáo của ngành Thanh tra,  8 tháng đầu năm 2026, toàn ngành đã tiến hành 2.759 cuộc thanh tra, ban hành 2.207 kết luận tại 6.454 đơn vị, phát hiện vi phạm về kinh tế 80.801 tỷ đồng và 5.550 ha đất; kiến nghị thu hồi 1.131 tỷ đồng và 207 ha đất. Cùng thời kỳ, ngành đã kiểm tra việc thực hiện 5.688 kết luận, quyết định xử lý về thanh tra, nhưng chỉ có 1.733 kết luận được thực hiện đầy đủ, tương ứng 30,5%; số đã thu hồi qua thực hiện kết luận là 841 tỷ đồng và 29 ha đất. Các con số này không thể được diễn giải giản đơn như một phép so sánh cơ học, nhưng đủ cho thấy điểm nghẽn của hoạt động thanh tra không chỉ ở khâu phát hiện mà còn ở khả năng chuyển kết quả thanh tra thành tài sản thực tế được hoàn trả.

Từ kinh nghiệm thực tiễn 15 năm trong lĩnh vực thanh tra, nghiên cứu pháp luật và hợp tác quốc tế, tác giả cho rằng yêu cầu cốt lõi hiện nay là chuyển từ tư duy “kiến nghị một khoản tiền” sang tư duy “quản trị một chuỗi thu hồi tài sản”. Chuỗi đó phải bao quát cả tài sản truyền thống và tài sản số, bởi lợi ích bất hợp pháp có thể liên tục chuyển đổi hình thức mà không thay đổi bản chất phải thu hồi.

Một buổi tập huấn chuyển đổi số cho cán bộ ngành Thanh tra. Ảnh: V.Hùng

Quy mô tham gia thị trường làm cho yêu cầu này trở nên cấp thiết. Một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ tổng hợp các ước tính cho rằng Việt Nam có khoảng 17–21 triệu người sở hữu hoặc sử dụng tài sản số và dòng giá trị tài sản số vào Việt Nam trong một năm có thể vượt 200 tỷ USD. Đây là số liệu ước tính từ nguồn thị trường, cần tiếp tục được kiểm chứng bằng dữ liệu quản lý chính thức; tuy nhiên, chúng cho thấy tài sản số không còn là hiện tượng cá biệt. Đối với hoạt động thanh tra, hệ quả trực tiếp là xác minh dòng tiền, nghĩa vụ thuế, chủ thể hưởng lợi và khả năng tẩu tán tài sản không thể chỉ dựa vào tài khoản ngân hàng, sổ đăng ký hoặc chứng từ truyền thống.

Thu hồi tài sản qua hoạt động thanh tra có thể được hiểu là tổng thể hoạt động của chủ thể có thẩm quyền nhằm phát hiện, xác định, bảo toàn và đưa tài sản bị chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái pháp luật hoặc làm thất thoát trở lại cho Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có quyền hợp pháp. Cách hiểu này nhấn mạnh ba yếu tố. Thứ nhất, tài sản phải được cá thể hóa đủ để thi hành, không chỉ dừng ở con số thiệt hại hoặc giá trị vi phạm. Thứ hai, phải tồn tại căn cứ pháp lý xác định quyền đòi lại tài sản và nghĩa vụ giao trả. Thứ ba, quyết định thu hồi chỉ đạt mục đích khi có cơ chế bảo đảm thi hành và quản lý tài sản sau thu hồi.

Trong thực tế, thuật ngữ “thu hồi” thường được sử dụng cho nhiều tình huống có bản chất khác nhau: thu hồi tiền Nhà nước bị sử dụng sai; hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp; khắc phục hậu quả theo thỏa thuận; thu hồi theo quyết định xử lý về thanh tra; kê biên, tịch thu theo tố tụng hình sự; hoặc thi hành nghĩa vụ bồi thường theo bản án. Việc không phân định rõ dễ dẫn đến hai hệ quả trái chiều: hoặc cơ quan thanh tra vượt quá thẩm quyền khi xử lý quyền tài sản đang có tranh chấp; hoặc chỉ dừng ở kiến nghị chung, bỏ lỡ thời điểm áp dụng biện pháp bảo toàn khi tài sản có nguy cơ bị tẩu tán.

Luật Thanh tra số 84/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã củng cố cơ sở pháp lý cho thu hồi tài sản trong hoạt động thanh tra. Theo Điều 49, khi phát hiện đối tượng thanh tra chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái pháp luật hoặc làm thất thoát tài sản của Nhà nước thì người ra quyết định thanh tra quyết định thu hồi. Điểm có ý nghĩa cải cách là quyết định thu hồi có thể được ban hành ngay trong quá trình thanh tra, không nhất thiết phải chờ đến khi kết luận thanh tra được ban hành, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Cơ chế này đáp ứng logic của thu hồi tài sản: tốc độ có ý nghĩa quyết định. Khi tài sản có tính thanh khoản cao, một khoảng trễ thủ tục ngắn cũng có thể làm thay đổi trạng thái pháp lý, địa điểm hoặc người kiểm soát tài sản. Tuy nhiên, quyền quyết định sớm phải đi cùng chuẩn chứng minh chặt chẽ, bởi việc thu hồi có thể tác động trực tiếp đến quyền tài sản và hoạt động bình thường của tổ chức, cá nhân.

Luật Thanh tra số 84/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã củng cố cơ sở pháp lý cho thu hồi tài sản trong hoạt động thanh tra. Ảnh: V.Hùng

Nghị định số 216/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra đã cụ thể hóa việc quản lý, xử lý tài sản trong thanh tra và căn cứ thu hồi ngay. Việc có bằng chứng, chứng cứ rõ ràng; sự thừa nhận của đối tượng thanh tra; hoặc việc đối tượng chủ động nộp lại tài sản là những căn cứ quan trọng để quyết định xử lý. Đây là bước tiến, nhưng thực tiễn vẫn cần hướng dẫn thống nhất thế nào là “chứng cứ rõ ràng”, mức độ cá thể hóa tài sản và cách xử lý khi tài sản nguyên gốc không còn.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 xác định tài sản tham nhũng phải được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, tịch thu theo quy định của pháp luật; thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra phải được khắc phục. Quy định này thể hiện nguyên tắc không để người vi phạm hưởng lợi từ tham nhũng. Tuy nhiên, “tài sản tham nhũng” là kết luận pháp lý có nội hàm rộng hơn “tài sản Nhà nước bị chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái pháp luật hoặc làm thất thoát” trong Luật Thanh tra. Không phải mọi khoản vi phạm kinh tế được phát hiện qua thanh tra đều mặc nhiên là tài sản tham nhũng; ngược lại, tài sản tham nhũng có thể đã chuyển hóa thành tài sản khác, trộn lẫn vào khối tài sản hợp pháp hoặc được che giấu dưới tên người thứ ba.

Khi phát hiện dấu hiệu tội phạm, hồ sơ phải được chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp theo Luật Thanh tra. Từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, việc thu giữ, phong tỏa, kê biên, xử lý vật chứng và tịch thu tài sản được thực hiện theo pháp luật tố tụng hình sự. Vấn đề khó chính là thời điểm và cách thức chuyển hóa kết quả thanh tra thành chứng cứ tố tụng, cũng như tránh khoảng trống bảo toàn tài sản giữa hai giai đoạn.

Việc Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 xác định tài sản số là tài sản theo pháp luật dân sự đã khắc phục một phần khoảng trống về tư cách pháp lý. Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP tiếp tục đưa hoạt động phát hành, giao dịch và cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa vào khuôn khổ thí điểm có quản lý. Hai văn bản giúp cơ quan Nhà nước có cơ sở rõ hơn để yêu cầu nhận diện khách hàng, lưu giữ dữ liệu, thực hiện nghĩa vụ phòng, chống rửa tiền và xử lý hành vi vi phạm trên thị trường.

Dù vậy, công nhận tài sản và quản lý thị trường mới là điều kiện đầu vào. Thu hồi còn đòi hỏi quy định về thẩm quyền tiếp cận dữ liệu, phong tỏa tài khoản và ví, kiểm soát khóa bí mật, chuyển tài sản sang lưu ký nhà nước, định giá, xử lý biến động giá và hoàn trả. Các nội dung này đang nằm ở giao điểm của pháp luật thanh tra, tố tụng, thi hành án, phòng, chống rửa tiền và quản lý tài sản công; nếu không có quy trình liên ngành, mỗi cơ quan có thể nhận diện đúng rủi ro nhưng không đủ công cụ để hành động kịp thời.

Một kết luận về giá trị vi phạm kinh tế không tự động tạo ra một đối tượng tài sản có thể thu hồi. Giá trị vi phạm có thể bao gồm khoản phải giảm trừ, khoản chưa đủ điều kiện quyết toán, lợi ích bị mất, nghĩa vụ thuế, tiền sử dụng đất, thiệt hại ước tính hoặc giá trị tài sản bị sử dụng sai mục đích. Mỗi loại đòi hỏi một căn cứ và cơ chế xử lý khác nhau. Nếu kết luận chỉ nêu tổng số tiền mà không chỉ ra tài sản, chủ thể đang kiểm soát, căn cứ quyền sở hữu, nơi tiếp nhận và thời hạn, cơ quan thi hành rất khó chuyển hóa con số trên giấy thành kết quả thu hồi.

Vì vậy, chất lượng kết luận thanh tra phải được đánh giá bằng khả năng thi hành. Một kiến nghị tốt cần trả lời tối thiểu sáu câu hỏi: tài sản nào; thuộc quyền của ai; đang ở đâu; ai có nghĩa vụ giao trả; cơ quan nào tiếp nhận và nếu không thực hiện thì áp dụng biện pháp nào. Điều đó đòi hỏi người làm thanh tra vừa nắm pháp luật nội dung, vừa có kỹ năng truy dấu tài sản và dự liệu quá trình thi hành.

Tài sản có giá trị lớn thường không tồn tại dưới trạng thái tĩnh. Tiền có thể được chuyển qua nhiều tài khoản, dùng để mua bất động sản, góp vốn, trả nợ giả tạo hoặc chuyển cho người thân và pháp nhân trung gian. Đăng ký sở hữu chỉ cho biết người đứng tên, không phải lúc nào cũng phản ánh người kiểm soát hoặc hưởng lợi cuối cùng. Nếu cơ quan thanh tra chỉ dừng ở chủ thể trên giấy tờ thì dễ bỏ sót tài sản; nhưng nếu suy đoán tài sản đứng tên người liên quan là tài sản vi phạm mà không có chứng cứ về nguồn tiền và quyền kiểm soát, quyết định thu hồi có nguy cơ xâm phạm quyền của người thứ ba ngay tình.

Thanh tra các địa phương đang khẩn trương phối hợp với Thanh tra Chính phủ số hoá hồ sơ. Ảnh: Văn Thanh

Do đó, hồ sơ thanh tra cần hình thành một “bản đồ tài sản” gồm nguồn hình thành, các lần chuyển dịch, chủ thể đứng tên, chủ thể kiểm soát thực tế, nghĩa vụ bảo đảm, giá trị hiện tại và quyền của bên thứ ba. Đây không chỉ là nghiệp vụ mà còn là điều kiện để xác định thẩm quyền: phần nào có thể thu hồi trực tiếp, phần nào cần khởi kiện, phần nào phải chuyển sang tố tụng hình sự hoặc tương trợ tư pháp.

Thu hồi tài sản có tính cạnh tranh với thời gian. Trong khi cơ quan Nhà nước cần kiểm tra, đối chiếu và hoàn thiện thủ tục, người có ý định tẩu tán chỉ cần một giao dịch điện tử hoặc một hợp đồng chuyển nhượng. Pháp luật thanh tra đã quy định các biện pháp như kiểm kê, tạm giữ tài sản, niêm phong tài liệu và yêu cầu phong tỏa tài khoản trong những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào tốc độ xác minh, chất lượng thông tin tài khoản, khả năng phối hợp của ngân hàng, cơ quan đăng ký và cơ quan tiến hành tố tụng.

Điểm cần khắc phục là khoảng trống giữa nhận diện nguy cơ và quyết định có hiệu lực. Mỗi vụ việc có dấu hiệu tẩu tán nên được xử lý theo một quy trình khẩn cấp: lập phiếu đánh giá rủi ro; xác định tài sản ưu tiên bảo toàn; báo cáo người có thẩm quyền trong thời hạn ngắn; gửi yêu cầu đồng thời đến các đầu mối liên quan và thiết lập cơ chế rà soát, gia hạn hoặc chấm dứt biện pháp. Biện pháp tạm thời càng mạnh thì yêu cầu về căn cứ, thời hạn và quyền khiếu nại càng phải rõ.

Đối với tài sản truyền thống, cơ quan có thẩm quyền thường kiểm soát tài sản thông qua người đang giữ tài sản, tổ chức tín dụng hoặc cơ quan đăng ký. Đối với tài sản mã hóa, quyền kiểm soát trên thực tế gắn với khóa bí mật, cụm từ khôi phục, thiết bị lưu trữ hoặc cơ chế đa chữ ký. Việc thu giữ điện thoại hay ví cứng không đồng nghĩa đã kiểm soát được tài sản; ngược lại, người còn nắm cụm từ khôi phục có thể chuyển tài sản sang địa chỉ khác trước khi biện pháp pháp lý được thi hành. Hướng dẫn của FATF năm 2025 cảnh báo rằng chỉ thu giữ thông tin liên quan đến khóa bí mật mà không chuyển tài sản sang một địa chỉ được Nhà nước kiểm soát có thể chưa đủ để ngăn việc dịch chuyển.

Tài sản mã hóa cũng tạo ra rủi ro quản lý sau khi thu giữ. Giá có thể biến động mạnh; tài sản có thể phát sinh quyền mới từ chia tách chuỗi, phân phối bổ sung hoặc phần thưởng đặt cược; một số mã thông báo có thể bị tổ chức phát hành đóng băng, trong khi tài sản trên ví tự quản không có trung gian để nhận lệnh. Vì vậy, cơ quan thu hồi phải đồng thời giải quyết bốn vấn đề: chứng minh ai kiểm soát ví; giành quyền kiểm soát hợp pháp và kịp thời; duy trì chuỗi bảo quản chứng cứ số; và quản lý tài sản mà không làm phát sinh mất mát, xung đột lợi ích hoặc trách nhiệm bồi thường.

Một hạn chế phổ biến là trách nhiệm bị phân tán sau khi kết luận được ban hành. Đoàn thanh tra kết thúc nhiệm vụ; đơn vị theo dõi, đôn đốc tiếp nhận hồ sơ; cơ quan quản lý đối tượng thanh tra tổ chức thực hiện; cơ quan tài chính, kho bạc, đất đai hoặc thi hành án xử lý từng phần. Nếu kết luận không thiết kế rõ đầu mối, mốc thời gian và kết quả đầu ra, quá trình thực hiện dễ kéo dài và trách nhiệm khó xác định.

Cần phân biệt “đã ban hành kiến nghị”, “đối tượng đã chấp hành”, “cơ quan có thẩm quyền đã tiếp nhận tài sản” và “tài sản đã được hạch toán, xử lý đúng quy định”. Chỉ tiêu quản lý không nên dừng ở số tiền kiến nghị thu hồi mà phải phản ánh giá trị thực thu, thời gian thu, chi phí quản lý và số vụ phải chuyển sang cơ chế khác. Việc công khai tiến độ ở mức phù hợp còn tạo áp lực giải trình và phòng ngừa tình trạng xử lý sau thanh tra bị kéo dài.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Bài 1 - Nhận diện “điểm nghẽn” từ thực tiễn thu hồi tài sản qua thanh tra

Bài 1 - Nhận diện “điểm nghẽn” từ thực tiễn thu hồi tài sản qua thanh tra

(Thanh tra) - Thu hồi tài sản có tính cạnh tranh với thời gian. Trong khi cơ quan Nhà nước cần kiểm tra, đối chiếu và hoàn thiện thủ tục, người có ý định tẩu tán chỉ cần một giao dịch điện tử hoặc một hợp đồng chuyển nhượng.

Trần Thị Thúy, Trưởng Phòng NC&HTPT - Đào Thảo Ly, Giảng viên, Trường Cán bộ Thanh tra

08:00 08/10/2026
Bài 2: Thực trạng pháp luật

Bài 2: Thực trạng pháp luật

(Thanh tra) - Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định chính thức, cụ thể về việc xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) đối với hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng.

Ths Nguyễn Mai Anh, Trường Cán bộ Thanh tra – Thanh tra Chính phủ

08:00 04/10/2026

Tin mới nhất

Xem thêm