Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Thu hẹp chênh lệch vùng: Tây Nguyên có thực sự “bắt kịp” duyên hải?

Minh Nghĩa

Thứ bảy, 09/05/2026 - 12:01

(Thanh tra) - Hàng loạt cao tốc và hành lang kinh tế đang mở đường cho Tây Nguyên kết nối mạnh hơn với duyên hải Nam Trung Bộ. Nhưng để thực sự “bắt kịp”, cao nguyên cần nhiều hơn hạ tầng, đó là chế biến sâu, logistics, nguồn nhân lực và mô hình phát triển xanh bền vững.

Trồng dâu công nghệ cao tại Măng Đen - Quảng Ngãi. Ảnh: MN

Quy hoạch 614/QĐ-TTg về điều chỉnh quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đang mở ra một cách tiếp cận phát triển khác với trước đây. Biển, cao nguyên và biên giới không còn được nhìn như những không gian tách rời, mà được đặt trong một cấu trúc liên kết vùng thống nhất, nơi hạ tầng, logistics, công nghiệp, du lịch và nông nghiệp được kết nối theo các hành lang Đông – Tây và Bắc – Nam.

Mục tiêu được đặt ra khá tham vọng: Tốc độ tăng trưởng GRDP toàn vùng khoảng 10%/năm giai đoạn 2026-2030; GRDP bình quân đầu người trên 210 triệu đồng; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 50%; lao động qua đào tạo đạt 70-75%. Nhưng phía sau những con số ấy vẫn còn một câu hỏi lớn, liệu Tây Nguyên có thực sự “bắt kịp” duyên hải, hay chỉ được kéo gần hơn với các cực tăng trưởng ven biển?

Từ “vùng xa” đến không gian liên kết biển - cao nguyên - biên giới

Điểm đáng chú ý nhất của quy hoạch lần này là cách nhìn mới về Tây Nguyên.

Trong nhiều năm, cao nguyên thường được xem như vùng phía sau của duyên hải, nơi cung cấp nông sản, nguyên liệu, khoáng sản và lao động. Nhưng Quy hoạch 614 đặt Tây Nguyên vào một vai trò rộng hơn: Không gian nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái - văn hóa và bảo tồn tài nguyên rừng.

Trưởng thôn A Hùng, làng A Vơng Kia, xã Măng Đen, Quảng Ngãi làm rau công nghệ cao. Ảnh: MN

Ở chiều ngược lại, duyên hải Nam Trung Bộ tiếp tục được xác định là trục động lực phát triển với cảng biển, logistics, đô thị ven biển, công nghiệp và du lịch quốc tế. Chính vì vậy, bài toán lớn của quy hoạch không chỉ là tăng trưởng, mà là làm sao để sự phát triển ấy lan tỏa theo chiều sâu vào phía Tây cao nguyên.

Các chỉ tiêu toàn vùng cho thấy kỳ vọng rất lớn. Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người được đặt mục tiêu trên 210 triệu đồng, tương đương hơn 8.000 USD; kinh tế số chiếm khoảng 30% GRDP; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 50%. Nhưng “mẫu số chung” ấy không đồng nghĩa với xuất phát điểm giống nhau.

Duyên hải có lợi thế tự nhiên về cảng biển, sân bay, logistics và du lịch; trong khi Tây Nguyên vẫn đối mặt nhiều hạn chế về hạ tầng kết nối, chất lượng nguồn nhân lực, dịch vụ y tế, giáo dục và năng lực chế biến sâu.

Bởi vậy, thu hẹp chênh lệch vùng không thể chỉ được đo bằng số kilomet cao tốc hay thời gian vận chuyển rút ngắn. Điều quan trọng hơn là Tây Nguyên có hình thành được năng lực phát triển tại chỗ hay không, nhà máy chế biến sâu, kho lạnh, logistics nông sản, thương hiệu vùng và hệ sinh thái doanh nghiệp đủ mạnh để giữ lại giá trị gia tăng trên cao nguyên.

Hạ tầng miền núi ở Xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: MN

Hạ tầng Đông – Tây mở đường, nhưng đủ để “bắt kịp”?

Quy hoạch xác định hạ tầng là đột phá chiến lược, với mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 1.700 km đường cao tốc, hình thành cơ bản các hành lang Bắc – Nam và Đông – Tây kết nối Tây Nguyên với khu vực ven biển.

Hàng loạt tuyến giao thông được nhấn mạnh như Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột, Quy Nhơn – Pleiku – Lệ Thanh, Dầu Giây – Liên Khương, Nha Trang – Liên Khương hay Chơn Thành – Gia Nghĩa. Đây được xem là những “mạch máu” mới để đưa Tây Nguyên ra biển nhanh hơn, gần hơn và kết nối sâu hơn với thị trường quốc tế.

Từ Buôn Ma Thuột, Pleiku, Gia Nghĩa hay Đà Lạt, nông sản và hàng hóa sẽ có thêm cửa ra Vân Phong, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng. Khoảng cách địa lý được rút ngắn đồng nghĩa với việc chi phí logistics có thể giảm đáng kể. Quy hoạch thậm chí đặt mục tiêu giảm khoảng 15-20% chi phí logistics thông qua hoàn thiện các hành lang Đông - Tây.

Nhưng hạ tầng chỉ là điều kiện cần.

Nếu cao tốc chỉ giúp vận chuyển nguyên liệu thô xuống cảng nhanh hơn, còn khâu chế biến, thương mại, xuất khẩu và logistics giá trị cao vẫn tập trung ở duyên hải, thì khoảng cách phát triển có thể chỉ được “kéo gần” về không gian, chứ chưa chắc được thu hẹp về giá trị kinh tế.

Điểm đáng chú ý là quy hoạch đã bắt đầu tính tới điều này khi định hướng Gia Lai và Đắk Lắk thành vùng nguyên liệu tập trung; xây dựng trung tâm chế biến lớn tại Buôn Ma Thuột và Pleiku; phát triển hệ thống cảng cạn, logistics lạnh, kho bảo quản và chuỗi xuất khẩu nông sản.

Đây có thể xem là “chìa khóa” để Tây Nguyên không chỉ đưa hàng ra biển, mà còn giữ lại nhiều hơn lợi nhuận và việc làm trên cao nguyên.

Đặc sản công nghệ cao trồng ở Tây Nguyên. Ảnh: MN

Muốn thu hẹp chênh lệch, Tây Nguyên phải có mô hình phát triển riêng

Khoảng cách vùng miền không chỉ nằm ở GRDP hay hạ tầng giao thông. Nó còn nằm ở chất lượng sống, khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản và cơ hội phát triển của người dân.

Quy hoạch đặt mục tiêu lao động qua đào tạo đạt 70-75%, trong đó có bằng cấp và chứng chỉ đạt 30-35%; đạt 40 giường bệnh và 17 bác sĩ trên 10.000 dân; 100% trạm y tế cấp xã có bác sĩ; bảo hiểm y tế bao phủ trên 95%; 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia.

Đây là những chỉ số cho thấy “bắt kịp” không chỉ được tính bằng tốc độ tăng trưởng, mà bằng trường học, bệnh viện, kỹ năng lao động và cơ hội tiếp cận dịch vụ công của người dân vùng sâu, vùng xa.

Các mục tiêu giảm nghèo cũng phản ánh khá rõ điều đó. Quy hoạch đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều khoảng 1,0-1,5%/năm; riêng hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm trên 3%/năm.

Nếu tăng trưởng chỉ dừng lại ở các đô thị động lực như Buôn Ma Thuột, Pleiku hay Đà Lạt mà chưa lan tới buôn làng, vùng biên giới, thì khái niệm “thu hẹp chênh lệch vùng” sẽ khó đi xa hơn các văn bản quy hoạch.

Quan trọng hơn, Tây Nguyên cũng không thể phát triển bằng cách sao chép mô hình duyên hải.

Quy hoạch yêu cầu duy trì tỷ lệ che phủ rừng khoảng 51,3%, đồng thời định hướng Tây Nguyên đi đầu trong bảo tồn, phục hồi và làm giàu tài nguyên thiên nhiên, hướng tới kinh tế trung hòa carbon. Điều đó đồng nghĩa cao nguyên không thể công nghiệp hóa bằng mọi giá hay đánh đổi rừng, nguồn nước và bản sắc văn hóa để lấy tăng trưởng ngắn hạn.

Có lẽ vì vậy, mô hình “bắt kịp” của Tây Nguyên cần một con đường khác: Xanh hơn, chậm hơn nhưng sâu hơn; dựa vào nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu, kinh tế rừng, du lịch sinh thái - văn hóa và năng lượng tái tạo.

Nếu duyên hải là cửa ngõ ra biển, thì Tây Nguyên cần trở thành nơi tạo ra giá trị bền vững phía sau những cánh cổng ấy. Và chỉ khi người dân cao nguyên thực sự được hưởng lợi từ chuỗi giá trị mới, câu chuyện thu hẹp chênh lệch vùng mới không dừng lại trên bản đồ quy hoạch.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm