Bài 4: Lối ra nào cho thị trường vốn?
(Thanh tra) - Ngành ngân hàng đã lên tiếng khẳng định tín dụng không thể “gánh” cả nền kinh tế. Vì vậy, thị trường vốn cần phải đa dạng hơn, phát triển tương xứng vai trò của mình.
Quang Dân

Một trong những vấn đề vĩ mô quan trọng nhất hiện nay chính là tín dụng/GDP của Việt Nam đang rất cao tới mức nhiều chuyên gia ngân hàng đã phải lên tiếng cảnh báo tín dụng ngân hàng không thể “gánh” cả nền kinh tế. Thị trường vốn Việt Nam cần phải có những bước đột phá mới.
Ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia kinh tế, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi đã đóng góp ý kiến về “lối ra” cho thị trường vốn Việt Nam.

Nếu tín dụng ngân hàng là lời giải hiệu quả cho nhu cầu vốn ngắn và trung hạn, thì thị trường vốn chính là lời giải cho những khát vọng phát triển dài hạn của nền kinh tế. Không phải ngẫu nhiên mà ở hầu hết các quốc gia có thu nhập cao, thị trường vốn luôn được xem là "bộ máy phân bổ nguồn lực chiến lược", nơi dòng tiền của xã hội được chuyển hóa thành nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng, công nghệ và những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Nhìn lại chặng đường phát triển của Việt Nam, thị trường vốn đã có bước tiến dài cả về quy mô và chất lượng.
Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đã đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP; thị trường hiện có 54 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD.
Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP, trong khi tổng giá trị huy động vốn trên thị trường chứng khoán tiếp tục tăng trưởng tích cực, đạt trên 325 nghìn tỷ đồng, tăng gần 16% so với năm trước.
Những con số này cho thấy thị trường vốn Việt Nam không còn ở giai đoạn hình thành, mà đang từng bước trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia.

Ông Nguyễn Quang Huy, Chuyên gia Kinh tế, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi. Ảnh: Huy Tuấn
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào bản chất của quá trình dẫn vốn, có thể thấy một khoảng trống đáng suy ngẫm. Thanh khoản trên thị trường chứng khoán nhiều thời điểm ở mức rất cao, nhưng lượng vốn được huy động trực tiếp cho nền kinh tế thông qua phát hành cổ phiếu mới vẫn chưa tương xứng với quy mô giao dịch.
Điều đó cho thấy thị trường vẫn đang nghiêng nhiều về chức năng chuyển nhượng tài sản hơn là chức năng tạo lập nguồn vốn mới cho doanh nghiệp. Nói cách khác, dòng tiền đang lưu chuyển khá mạnh trong thị trường, nhưng chưa thực sự lưu chuyển mạnh vào nền kinh tế thực.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa một thị trường giao dịch sôi động và một thị trường vốn phát triển. Một thị trường vốn hiện đại không được đánh giá chủ yếu bằng giá trị giao dịch mỗi phiên, mà bằng khả năng huy động nguồn lực dài hạn với chi phí hợp lý cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Khi thị trường thực hiện tốt chức năng đó, doanh nghiệp có thêm nguồn lực để mở rộng đầu tư, người dân có thêm cơ hội tham gia vào quá trình tạo lập giá trị, còn hệ thống ngân hàng cũng giảm bớt áp lực phải tài trợ cho những dự án có chu kỳ vốn kéo dài.

Tín dụng ngân hàng là lời giải hiệu quả cho nhu cầu vốn ngắn và trung hạn, thì thị trường vốn chính là lời giải cho phát triển dài hạn của nền kinh tế. Ảnh: Ngân hàng ACB
Muốn đạt được điều đó, trước hết thị trường phải được xây dựng trên nền tảng niềm tin. Niềm tin không được hình thành từ những giai đoạn thị trường tăng mạnh, mà được tích lũy bằng chất lượng quản trị doanh nghiệp, tính minh bạch của thông tin, sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật và khả năng bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư.
Đó cũng là lý do thời gian qua, cùng với việc hoàn thiện thể chế theo các chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ về phát triển thị trường vốn, nhiều giải pháp nâng cao chất lượng thị trường đã được triển khai đồng bộ, hướng tới mục tiêu xây dựng một môi trường đầu tư công khai, minh bạch và tiệm cận các thông lệ quốc tế.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, những bài học trong giai đoạn điều chỉnh vừa qua đã tạo động lực để quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý diễn ra mạnh mẽ hơn. Các quy định mới không chỉ hướng tới việc siết chặt kỷ cương thị trường mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng phát hành, tăng cường minh bạch thông tin, xác định rõ mục đích sử dụng vốn, kế hoạch thanh toán và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường.
Cùng với đó, việc mở rộng phạm vi xếp hạng tín nhiệm, nâng cao vai trò của tổ chức đại diện người sở hữu trái phiếu, tăng cường quản lý tài sản bảo đảm và khuyến khích các cơ chế bảo lãnh thanh toán sẽ góp phần hình thành một thị trường trái phiếu chuyên nghiệp, nơi nhà đầu tư đưa ra quyết định dựa trên mức độ rủi ro và chất lượng tín dụng thay vì kỳ vọng lợi nhuận đơn thuần.

Các đại biểu tham gia Hội thảo Khơi thông dòng vốn bất động sản do Báo Thanh tra tổ chức vào ngày 22/7 tại Hà Nội. Ảnh: Huy Tuấn
Một thị trường vốn bền vững vì thế không thể được xây dựng chỉ bằng việc mở rộng quy mô giao dịch hay gia tăng số lượng doanh nghiệp niêm yết. Điều cốt lõi hơn là phải kiến tạo được một hệ sinh thái mà ở đó niềm tin trở thành loại "vốn" quan trọng nhất.
Chỉ khi doanh nghiệp minh bạch hơn, nhà đầu tư được bảo vệ tốt hơn, các chuẩn mực quản trị ngày càng tiệm cận quốc tế và kỷ luật thị trường được thực thi nghiêm túc, thị trường vốn mới thực sự trở thành điểm tựa cho những chu kỳ đầu tư dài hạn, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam từng bước hội nhập sâu hơn với dòng chảy của thị trường tài chính toàn cầu.

Lịch sử phát triển của các nền kinh tế thành công cho thấy, không có một mô hình tài chính nào được hình thành chỉ trong một sớm một chiều. Từ Hàn Quốc, Singapore đến Malaysia, quá trình phát triển thị trường vốn đều diễn ra song hành với cải cách thể chế, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp và từng bước hình thành các nhà đầu tư tổ chức có năng lực dẫn dắt thị trường.
Điểm chung của các quốc gia này không nằm ở quy mô thị trường chứng khoán hay thị trường trái phiếu, mà ở việc xây dựng được một hệ sinh thái tài chính cân bằng, nơi mỗi định chế thực hiện đúng chức năng của mình và cùng hướng tới mục tiêu phân bổ nguồn lực hiệu quả cho nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, bài học ấy càng có ý nghĩa khi bước vào giai đoạn phát triển mới. Thị trường chứng khoán hiện đã có hơn 13,5 triệu tài khoản giao dịch, phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của người dân đối với đầu tư tài chính. Tuy nhiên, hơn 98% số tài khoản vẫn thuộc về nhà đầu tư cá nhân. Đây là nguồn lực quan trọng tạo nên sức sống của thị trường, nhưng cũng khiến biến động ngắn hạn chịu ảnh hưởng lớn từ tâm lý và kỳ vọng của từng nhóm nhà đầu tư.

Phiên đối thoai chính sách tại Hội thảo Khơi thông dòng vốn bất động sản do Báo Thanh tra tổ chức ngày 22/7 tại Hà Nội. Ảnh: Huy Tuấn
Một thị trường vốn phát triển bền vững luôn cần một lực lượng nhà đầu tư dài hạn đủ lớn để tạo nền tảng ổn định. Đó là các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ ETF, các định chế quản lý tài sản và nhiều nhà đầu tư tổ chức khác.
Không chỉ cung cấp nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế, các tổ chức này còn góp phần nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, thúc đẩy minh bạch thông tin, khuyến khích đầu tư theo giá trị và giảm bớt những biến động mang tính chu kỳ của thị trường. Vì vậy, phát triển nhà đầu tư tổ chức cần được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình hoàn thiện thị trường vốn trong thập niên tới.
Cùng với việc mở rộng nền tảng nhà đầu tư, chất lượng hàng hóa trên thị trường cũng cần được nâng lên tương xứng. Đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán, thúc đẩy thoái vốn theo lộ trình phù hợp, khuyến khích nhiều doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn thực hiện IPO, từng bước nghiên cứu cơ chế phù hợp để mở rộng sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... sẽ góp phần gia tăng nguồn cung cổ phiếu chất lượng, cải thiện quy mô và chiều sâu của thị trường.
Quan trọng hơn, quá trình đó sẽ tạo động lực lan tỏa các chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp từ tháng 9/2026 không chỉ mang ý nghĩa về mặt danh mục phân loại. Đây là dấu mốc phản ánh sự ghi nhận đối với những nỗ lực cải cách của Việt Nam trong nhiều năm qua, đồng thời mở ra cơ hội thu hút dòng vốn quốc tế quy mô lớn.
Tuy nhiên, nâng hạng không phải là đích đến, mà là điểm khởi đầu của một chặng đường cải cách sâu rộng hơn. Muốn duy trì niềm tin của các nhà đầu tư toàn cầu và từng bước hướng tới các chuẩn mực cao hơn như MSCI, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế công bố thông tin bằng tiếng Anh, hiện đại hóa hạ tầng giao dịch, triển khai mô hình đối tác bù trừ trung tâm (CCP), tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài và không ngừng nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế.

Bài toán huy động nguồn lực sẽ không thể chỉ đặt lên vai khu vực ngân hàng hay một vài cấu phần riêng lẻ của thị trường tài chính. Ảnh: Ngân hàng BIDV
Xa hơn, khi nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế đến năm 2030 được dự báo tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, bài toán huy động nguồn lực sẽ không thể chỉ đặt lên vai khu vực ngân hàng hay một vài cấu phần riêng lẻ của thị trường tài chính.
Điều Việt Nam cần là một chiến lược tổng thể phát triển hệ thống tài chính quốc gia, trong đó cải cách thể chế là nền tảng; minh bạch và kỷ luật thị trường là điều kiện tiên quyết; phát triển trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu xanh, trái phiếu phục vụ các dự án PPP, thúc đẩy tài chính bền vững theo tiêu chuẩn ESG, mở rộng hệ sinh thái quỹ đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận vốn là những mắt xích quan trọng trong cùng một cấu trúc phát triển.
Đích đến của quá trình cải cách không phải là xây dựng một thị trường chứng khoán có giá trị giao dịch lớn hơn hay một thị trường trái phiếu có quy mô cao hơn. Mục tiêu lớn hơn là kiến tạo một hệ sinh thái tài chính hiện đại, minh bạch và có khả năng chuyển hóa hiệu quả nguồn tiết kiệm của xã hội thành nguồn lực đầu tư cho tương lai.
Khi ngân hàng và thị trường vốn cùng phát triển trên nền tảng thể chế vững chắc, quản trị hiện đại và niềm tin được củng cố, Việt Nam sẽ không chỉ giải được bài toán vốn cho tăng trưởng, mà còn tạo dựng được năng lực cạnh tranh tài chính đủ mạnh để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
(Thanh tra) - Ngành ngân hàng đã lên tiếng khẳng định tín dụng không thể “gánh” cả nền kinh tế. Vì vậy, thị trường vốn cần phải đa dạng hơn, phát triển tương xứng vai trò của mình.
Quang Dân
(Thanh tra) - Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vượt 427.100 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 2.625 tỷ đồng. Đồng hành cùng định hướng giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế, SeABank tiếp tục duy trì hoạt động hiệu quả, mở rộng tín dụng, củng cố nguồn vốn và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn.
PV
Thiên Tâm
Quang Dân
T.Vân
Quang Dân
Thái Hải
Đan Quế
Văn Thanh
Thanh Lương
Hương Giang
Hương Trà
Thái Hải
Thanh Lương
Hải Hà
Thanh Lương