Cách đây hơn một năm, với “quyết định lịch sử” của Quốc hội ngày 12/6/2025, Việt Nam chính thức từ 63 tỉnh, thành còn 34 tỉnh, thành phố. Bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp đồng thời được vận hành trên cả nước từ ngày 1/7/2025. Đây là cuộc cải cách có phạm vi rất rộng, tác động đến hầu hết cơ quan, cán bộ, công chức, người lao động trong hệ thống chính trị.
Sau giai đoạn sắp xếp tổ chức ban đầu, vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để những thay đổi về tổ chức thực sự chuyển hóa thành thay đổi về chất lượng quản trị, hiệu quả hoạt động của bộ máy, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực kiến tạo phát triển.
Trao đổi với phóng viên Báo Thanh tra, nguyên Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Hà Sỹ Đồng, cũng là đại biểu Quốc hội trực tiếp tham gia “quyết định lịch sử”, nhấn mạnh cuộc sắp xếp lại địa giới hành chính thực chất là một cuộc cải cách sâu về cấu trúc quản trị quốc gia.
Theo ông, giá trị lớn nhất của mô hình mới là rút ngắn khoảng cách giữa cấp quyết định với nơi trực tiếp phục vụ Nhân dân. Khi không còn cấp huyện, cấp tỉnh tập trung vào hoạch định chiến lược, quy hoạch, điều phối nguồn lực, kiểm tra, giám sát; cấp xã trực tiếp giải quyết nhiều công việc liên quan đến đời sống người dân và hoạt động của doanh nghiệp.
“Người dân không quan tâm hồ sơ của mình thuộc thẩm quyền của bao nhiêu cơ quan; điều họ quan tâm là có được giải quyết đúng pháp luật, đúng thời hạn và có phải đi lại nhiều lần hay không”, ông Hà Sỹ Đồng
“Nói ngắn gọn, chúng ta đang chuyển từ một bộ máy nhiều tầng nấc sang một nền quản trị ít tầng nấc hơn, nhưng trách nhiệm phải rõ hơn, quyết định phải nhanh hơn và phục vụ phải tốt hơn”, ông Hà Sỹ Đồng khái quát.
Trước đây, một công việc có thể phải đi qua xã, huyện rồi mới đến tỉnh; mỗi tầng nấc đều có thể phát sinh thêm thủ tục, thời gian, trong khi trách nhiệm đôi khi bị chia nhỏ.
Với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nếu phân quyền đúng và hệ thống dữ liệu được kết nối tốt, nhiều vấn đề có thể được xử lý ngay tại cấp xã.
“Người dân không quan tâm hồ sơ của mình thuộc thẩm quyền của bao nhiêu cơ quan; điều họ quan tâm là có được giải quyết đúng pháp luật, đúng thời hạn và có phải đi lại nhiều lần hay không”, ông Hà Sỹ Đồng nói.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (TP Hải Phòng) cũng cho rằng, hiệu quả của cải cách bộ máy cuối cùng không chỉ đo bằng số đầu mối giảm hay số biên chế được tinh giản, mà phải được đo bằng thời gian, chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp; mức độ thuận tiện khi thực hiện thủ tục hành chính; và quan trọng hơn là mức độ hài lòng, niềm tin của Nhân dân.
Cùng với giảm tầng nấc trung gian, quy trình xử lý công việc cũng được rút ngắn. Khi cấp xã được giao thêm thẩm quyền, nhiều vấn đề trước đây phải qua cấp huyện nay có thể được xem xét, giải quyết trực tiếp tại cơ sở.
“Nếu phân cấp đi cùng với đủ nguồn lực, cán bộ có năng lực và hệ thống dữ liệu thông suốt thì thời gian xử lý công việc cho người dân, doanh nghiệp sẽ được rút ngắn đáng kể”, bà Nga phân tích.
Chính quyền cấp xã trong mô hình mới, theo bà Nga, không còn đơn thuần thực hiện một số nhiệm vụ quản lý hành chính ở cơ sở, mà đã trở thành một cấp chính quyền có phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn lớn hơn rất nhiều. Điều này vừa tạo tính chủ động, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị.
Báo cáo tại hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp vào ngày 1/7, theo Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc, sau sắp xếp, tình trạng hành chính hóa, cắt khúc được khắc phục, bộ máy của hệ thống chính trị chuyển sang cơ chế điều hành trực tiếp, liên thông “Trung ương - cấp tỉnh - cấp xã”. Độ trễ trong ra quyết định được thu hẹp, trách nhiệm thực thi được cá thể hóa rõ nét.
Để bộ máy vận hành hiệu quả, nguyên Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cho rằng không thể xem nhẹ bất kỳ yếu tố nào trong 3 trụ cột gồm: Thể chế, đội ngũ cán bộ và chuyển đổi số. Ông ví von các yếu tố này như “3 chân của một chiếc kiềng, thiếu 1 chân thì hệ thống khó vận hành bền vững”.
“Không thể giao thêm hàng trăm nhiệm vụ cho cơ sở nhưng con người, ngân sách, dữ liệu và công cụ thực thi vẫn như cũ. Phân quyền như vậy mới chỉ là chuyển việc chứ chưa phải trao quyền”, ông Hà Sỹ Đồng
Nếu phải xác định thứ tự ưu tiên, ông Hà Sỹ Đồng cho rằng trước hết phải hoàn thiện thể chế, đồng thời phân định thẩm quyền thật rõ.
“Cán bộ dù giỏi đến đâu, công nghệ dù hiện đại đến đâu nhưng pháp luật không rõ ai được quyết định, quyết định đến đâu và chịu trách nhiệm như thế nào thì bộ máy vẫn có thể ách tắc”, ông Hà Sỹ Đồng phân tích.
Theo ông Đồng, những việc địa phương làm tốt hơn thì giao cho địa phương; những việc cấp xã giải quyết hiệu quả hơn thì giao cho cấp xã. Cấp trên tập trung vào xây dựng thể chế, hoạch định chiến lược, ban hành tiêu chuẩn và tăng cường kiểm tra, giám sát.
Đặc biệt, cần quán triệt nguyên tắc quyền hạn đến đâu, nguồn lực đến đó; trách nhiệm đến đâu, cơ chế kiểm soát quyền lực phải đến đó.
“Không thể giao thêm hàng trăm nhiệm vụ cho cơ sở nhưng con người, ngân sách, dữ liệu và công cụ thực thi vẫn như trước”, ông Đồng nói. Nếu phân quyền mà không kèm nguồn lực thì mới chỉ là chuyển việc chứ chưa phải trao quyền.
Bên cạnh thể chế, đội ngũ cán bộ là trụ cột thứ hai quyết định chất lượng vận hành mô hình mới. Theo ông Hà Sỹ Đồng, mô hình chính quyền càng tinh gọn thì yêu cầu đối với từng cán bộ càng cao.
Do đó, cần đổi mới đồng bộ từ tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ; đánh giá không thể chủ yếu dựa vào số lượng văn bản đã xử lý, mà phải dựa vào sản phẩm cuối cùng, chất lượng, tiến độ công việc và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Trụ cột thứ ba là chuyển đổi số. Ông Hà Sỹ Đồng nhấn mạnh, chuyển đổi số không đơn thuần là đưa quy trình giấy tờ lên môi trường điện tử.
“Nếu một thủ tục đang qua 5 bước mà chúng ta số hóa nguyên cả 5 bước đó lên môi trường số thì thực chất mới chỉ là số hóa sự phức tạp, chứ chưa phải cải cách”, ông nêu quan điểm.
Chuyển đổi số phải gắn liền với tái thiết kế quy trình, đơn giản hóa thủ tục và khai thác hiệu quả dữ liệu. Dữ liệu đã có trong cơ quan Nhà nước thì không nên yêu cầu người dân phải kê khai lại; giấy tờ đã được một cơ quan xác nhận thì cơ quan khác phải khai thác được.
Khi 3 trụ cột được kết hợp đồng bộ, theo ông Hà Sỹ Đồng, chúng ta mới có một nền hành chính hiện đại. Trong đó, thể chế mở đường, đội ngũ cán bộ quyết định chất lượng thực thi và chuyển đổi số tạo ra tốc độ, sự minh bạch trong hoạt động của bộ máy.
Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc cho biết, bộ máy tinh gọn gắn với chuyển đổi số đã tạo bước đột phá, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chính quyền “gần dân”. Mức độ hài lòng của người dân đạt hơn 83%; trên 89% ý kiến ghi nhận cơ bản không còn tình trạng công chức sách nhiễu, phiền hà.
Cùng với nâng cao chất lượng vận hành bộ máy, sắp xếp tổ chức cũng đặt ra yêu cầu xử lý hiệu quả nguồn lực công, nhất là nhà, đất, trụ sở dôi dư. Tuy nhiên, việc xử lý tài sản công, trụ sở dôi dư còn chậm ở nhiều nơi.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, đây là bài toán lớn cần được giải quyết quyết liệt.
Theo bà Nguyễn Thị Việt Nga, khó khăn trước hết là khối lượng tài sản rất lớn, tình trạng pháp lý và hiện trạng sử dụng rất khác nhau. Có những tài sản đầy đủ hồ sơ, nhưng cũng có trường hợp hồ sơ đất đai chưa hoàn chỉnh. Có trụ sở nằm ở vị trí có giá trị thương mại cao, trong khi một số cơ sở lại ở xa trung tâm, xuống cấp hoặc rất khó tìm phương án khai thác phù hợp.
Bên cạnh đó, việc xử lý tài sản công liên quan đồng thời đến nhiều quy định như tài sản công, đất đai, quy hoạch, đầu tư, đấu giá và ngân sách.
“Nếu thủ tục kéo dài, tài sản để không sẽ xuống cấp, Nhà nước vẫn phải bỏ kinh phí bảo vệ, duy tu; nhưng nếu nóng vội trong chuyển đổi, bán, đấu giá lại có nguy cơ thất thoát tài sản Nhà nước”, bà Nga phân tích.
“Một tài sản công bỏ hoang nhiều năm cũng là một dạng lãng phí nguồn lực. Xử lý nhanh không có nghĩa là xử lý bằng mọi giá. Yêu cầu xuyên suốt phải là đúng pháp luật, công khai, hiệu quả và bảo toàn cao nhất lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga
Để tháo gỡ vướng mắc này, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng trước hết phải kiểm kê đầy đủ, số hóa và công khai danh mục nhà, đất dôi dư. Trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, việc phân loại tài sản cần được thực hiện để lựa chọn phương án xử lý phù hợp.
Theo bà Nga, những cơ sở còn tốt, phù hợp nên ưu tiên bố trí cho các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thiết chế cộng đồng hoặc các dịch vụ công còn thiếu. Những tài sản có khả năng khai thác kinh tế cần đấu giá, cho thuê hoặc chuyển đổi công năng minh bạch theo pháp luật. Những cơ sở thực sự không còn nhu cầu sử dụng phải được xử lý kịp thời, tránh tình trạng “đóng cửa để đó”.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đặc biệt lưu ý tiến độ xử lý tài sản dôi dư cần được gắn với trách nhiệm người đứng đầu. “Một tài sản công bỏ hoang nhiều năm cũng là một dạng lãng phí nguồn lực. Xử lý nhanh không có nghĩa là xử lý bằng mọi giá. Yêu cầu xuyên suốt phải là đúng pháp luật, công khai, hiệu quả và bảo toàn cao nhất lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân”, theo lời bà Nga.
Cùng với đó, đại biểu Nga cho rằng cần tăng cường giám sát đối với việc quản lý, sử dụng tài sản công; tập trung vào những địa bàn có số lượng tài sản dôi dư lớn, những tài sản có giá trị cao và những trường hợp chậm xử lý kéo dài.
“Giám sát cũng không nên chỉ xem tài sản đã được xử lý đúng thủ tục hay chưa, mà cần đánh giá hiệu quả sau xử lý. Một trụ sở được chuyển đổi đúng quy trình nhưng tiếp tục để không hoặc sử dụng kém hiệu quả thì mục tiêu chống lãng phí vẫn chưa đạt được”, bà Nguyễn Thị Việt Nga nêu quan điểm.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga đồng thời nhấn mạnh cần tăng cường công khai, minh bạch để HĐND, MTTQ, Nhân dân và báo chí có thể tham gia giám sát. “Giám sát không chỉ để phát hiện sai phạm mà còn phải phát hiện sự trì trệ và những cơ chế đang làm lãng phí nguồn lực công”.
Từ tinh gọn tổ chức đến nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, điểm đến cuối cùng của cuộc cải cách vẫn là năng lực hoạt động của bộ máy và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Hiện nay yêu cầu đặt ra không dừng ở việc “đã sắp xếp xong” bộ máy mà phải bước vào giai đoạn “tiếp tục tinh chỉnh” để đạt hiệu quả cao hơn.
“Cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc rất lớn, rất khó và phải được tiến hành kiên trì, bài bản, khoa học. Không thể nóng vội, chủ quan, song cũng không thể dừng lại hoặc chần chừ trước những bất cập được thực tiễn chỉ ra”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.
Tinh thần nhất quán được người đứng đầu Đảng, Nhà nước quán triệt là “tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, cơ chế phân cấp, phân quyền mới phải song hành với trách nhiệm mới, dữ liệu mới phải tạo ra phương thức quản trị mới, và bộ máy mới phải đem lại chất lượng phục vụ mới cho người dân và doanh nghiệp”.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, yêu cầu tiếp theo phải cao hơn: Không chỉ vận hành được mà phải vận hành tốt; không chỉ giải quyết công việc mà phải tạo thuận lợi và kiến tạo phát triển.
Theo bà Nga, trước hết phải thay đổi tư duy quản trị. Chính quyền không chỉ quản lý bằng thủ tục mà phải quản trị bằng mục tiêu, kết quả và chất lượng phục vụ. Cán bộ cũng phải chuyển mạnh từ tâm thế “chờ người dân đến giải quyết thủ tục” sang chủ động phát hiện khó khăn, tháo gỡ điểm nghẽn cho người dân và doanh nghiệp.
Về phía Quốc hội, theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, vai trò đồng hành trước hết là tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tháo gỡ những điểm nghẽn phát sinh từ thực tiễn vận hành mô hình mới; đồng thời tăng cường giám sát việc phân cấp, phân quyền, quản lý tài sản công, giải quyết kiến nghị của cử tri và chất lượng cung ứng dịch vụ công.
Sau sắp xếp, thước đo cuối cùng không nằm ở số đầu mối được giảm, mà ở hiệu quả hoạt động của Nhà nước, khả năng giải phóng nguồn lực xã hội và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
“Đó cũng phải là tiêu chí xuyên suốt để Quốc hội giám sát và để chính quyền các cấp tiếp tục hoàn thiện mô hình trong thời gian tới”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.
Bài 2: Trao quyền phải đi cùng nguồn lực và kiểm soát quyền lực