Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Xuất khẩu lao động về nước, nhiều người muốn quay lại quốc gia từng làm việc

Thành Công

Thứ bảy, 03/10/2026 - 19:09

(Thanh tra) - Trong nhóm xuất khẩu lao động về nước có ý định tiếp tục di cư để tìm kiếm việc làm, phần lớn mong muốn quay trở lại làm việc tại quốc gia đã từng làm việc trước đây (chiếm đến 68,9%).

Số liệu trên được đưa ra tại Báo cáo chuyên sâu về lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài do Cục Thống kế vừa công bố. Kết quả khảo sát cho thấy, có trên 412 nghìn lao động Việt Nam đã đi làm việc ở nước ngoài trong vòng 3 năm qua.

Trong nhóm xuất khẩu lao động về nước có ý định tiếp tục di cư để tìm kiếm việc làm, phần lớn mong muốn quay lại quốc gia đã từng làm việc. Ảnh minh họa: Tống Giáp

Mặc dù lao động Việt Nam có mặt tại 42 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, song vẫn tập trung chủ yếu tại 3 thị trường Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), chiếm 76,7% tổng số lao động Việt Nam đi xuất khẩu.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, lao động di cư ra nước ngoài làm việc chủ yếu đến từ khu vực nông thôn, có độ tuổi tương đối trẻ và phần lớn đã tốt nghiệp trung học phổ thông; với tuổi trung vị khoảng 27 tuổi, và gần như không có sự khác biệt giữa nam và nữ.

Điều này cũng được phản ánh qua việc tỷ trọng lao động trẻ (nhóm 15 - 24 tuổi) tăng từ 31,4% lên 35,0%, tương ứng tăng 3,6 điểm phần trăm.

Trong khi đó, dưới tác động của già hóa dân số do tuổi thọ tăng và mức giảm sinh kéo dài, cơ cấu tuổi của lực lượng lao động trong nước dịch chuyển sang các nhóm tuổi cao hơn, thể hiện qua tuổi trung vị tăng từ 40 tuổi lên 42 tuổi.

Xu hướng trẻ hóa của lao động xuất khẩu còn được thể hiện qua sự gia tăng về tỷ trọng nhóm lao động chưa từng kết hôn trong giai đoạn quan sát, từ 52,4% lên 61,1%, tương ứng tăng 8,7 điểm phần trăm.

Về thu nhập, khảo sát tiền lương theo trình độ học vấn cho thấy mức thu nhập không tăng đều theo trình độ học vấn mà có sự tách biệt rõ rệt ở nhóm có trình độ cao.

Năm 2025, thu nhập của nhóm lao động có trình độ cao đẳng trở lên đạt 42,6 triệu đồng, cao hơn đáng kể so với các nhóm còn lại.

Trong khi đó, các nhóm từ dưới trung học cơ sở đến trung học phổ thông có mức thu nhập khá tương đồng, dao động trong khoảng 22 - 26 triệu đồng. Mức chênh lệch giữa các nhóm này không lớn, cho thấy thu nhập chỉ cải thiện rõ rệt khi người lao động đạt trình độ chuyên môn khá (từ cao đẳng trở lên).

Điều này cho thấy lợi thế về thu nhập chủ yếu tập trung ở nhóm lao động có trình độ cao, trong khi sự khác biệt về thu nhập giữa các nhóm có trình độ học vấn thấp hơn vẫn chưa đáng kể.

Hỗ trợ việc làm cho lao động xuất khẩu về nước có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người lao động nhanh chóng tái hòa nhập thị trường lao động trong nước, giảm nguy cơ thất nghiệp và áp lực tài chính sau hồi hương.

Kết quả khảo sát cho thấy, 90,9% lao động di cư sau khi về nước có nhận được ít nhất một hình thức hỗ trợ về việc làm. Đặc biệt, tại hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM, tỷ lệ lao động di cư nhận được hỗ trợ việc làm ở mức rất cao, lần lượt là 97,7% và 98,4%.

Nhóm nghề phổ biến nhất của lao động hồi hương là thợ thủ công, chiếm gần 31%; tiếp đến là bán hàng, dịch vụ, bảo vệ với khoảng 25%. Trong khi đó, chỉ hơn 5% tìm được công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật, gồm 3% ở bậc cao và 2% ở bậc trung.

Về nơi làm việc, gần 33% lao động hồi hương làm việc trong khu vực tư nhân, 21% tự kinh doanh hoặc làm kinh doanh hộ gia đình, 8% làm công việc trả lương theo ngày hoặc giờ và chỉ 3% tham gia khu vực Nhà nước.

Những con số này cho thấy một nghịch lý khá rõ: Người lao động có thêm kinh nghiệm sau nhiều năm ở nước ngoài nhưng công việc khi trở về chưa chắc đã tương xứng.

Khi kinh nghiệm sẵn có nhưng khó chuyển thành một vị trí tốt hơn, việc quay lại nơi từng làm việc trở thành lựa chọn dễ hiểu. Ở Nhật Bản, họ đã quen với môi trường làm việc, có kinh nghiệm nghề nghiệp và không phải bắt đầu mọi thứ từ con số 0.

Ý định tiếp tục xuất khẩu lao động sau khi về nước, qua khảo sát cho thấy chiếm 22,6% tỷ lệ lao động có ý định tiếp tục ra nước ngoài làm việc. Trong khi phần lớn người lao động (60,2%) không có ý định tiếp tục di cư, 17,2% không chắc chắn có tiếp tục di cư nữa không trong vòng 12 tháng tới.

Trong nhóm lao động hồi hương có ý định tiếp tục di cư để tìm kiếm việc làm, phần lớn mong muốn quay trở lại quốc gia đã từng làm việc trước đây (chiếm đến 68,9%), trong đó mong muốn quay lại Nhật Bản làm việc chiếm tỷ lệ cao.

Chỉ có 14,6% người lao động khi được hỏi, cho biết họ có ý định di cư đến các quốc gia khác; và 16,5% người lao động mong muốn di cư đến các tỉnh, thành phố khác trong nước để làm việc.

Nhật Bản đang mở thêm đường cho lao động trở lại

Việc người lao động muốn quay lại Nhật cũng có lý do từ phía thị trường. Hiện Nhật Bản vẫn là thị trường tiếp nhận lao động lớn nhất của Việt Nam, chiếm 42,2% tổng số lao động Việt làm việc ở nước ngoài. Riêng năm 2025, thị trường này thu hút hơn 64.600 lao động Việt Nam.

Thời gian gần đây, Nhật Bản tiếp tục điều chỉnh chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài theo hướng mở rộng các lĩnh vực có nhu cầu nhân lực. Chương trình Lao động Kỹ năng đặc định (SSW) vừa bổ sung 3 lĩnh vực gồm dịch vụ cung cấp đồ vải, kho vận hậu cần và tuần hoàn tài nguyên, nâng tổng số lĩnh vực tiếp nhận lên 19. Chỉ tiêu tiếp nhận giai đoạn 2024 - 2029 là 805.700 người.

Từ tháng 4/2027, Nhật Bản cũng triển khai Chương trình Việc làm phát triển kỹ năng (ESD) với 17 lĩnh vực tiếp nhận, dự kiến tiếp nhận 426.200 người trong giai đoạn 2027 - 2029.

Với những lao động đã có 3 - 5 năm kinh nghiệm, các thay đổi này mở thêm những lựa chọn về tư cách lưu trú và con đường làm việc lâu dài. Đây cũng là điểm khác biệt so với lần xuất cảnh đầu tiên: họ trở lại với vốn kinh nghiệm đã có và đứng trước một thị trường vẫn cần nhân lực.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất