Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ năm, 11/05/2017 - 18:04
(Thanh tra) - Trong thời gian gần đây, dư luận và đặc biệt là nhân dân xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội lại sôi sục câu chuyện tranh chấp đất đai giữa hai người anh em là ông Nguyễn Văn Cát và ông Nguyễn Sinh Tập.
Phóng viên được người dân sống quanh khu đất cho biết, diện tích đất tranh chấp là 480m2 nằm trong phần diện tích 860m2 của ông Nguyễn Sinh Tập theo tờ bản đồ số 2, thửa số 377b tại thôn Bá Nội do UBND thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 20 tháng 1 năm 1986 (loại đất thổ cư).
Sự việc tranh chấp bắt đầu vào ngày 24 tháng 5 năm 2006, người anh cả Nguyễn Văn Cát trú tại thôn 8 xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội “đến tranh chấp” và tất nhiên ông Tập không đồng ý (vì đất này ông được mẹ ông cho từ năm 1975, đã có di chúc của cụ cũng như ông đã ở, đóng thuế từ đó đến nay).
Người trong cuộc nói gì?
Theo chúng tôi được biết, người anh, ông Nguyễn Văn Cát trình bày như sau: “Năm 1966 vợ chồng ông được mẹ ông là cụ Phạm Thị Dậu cho sử dụng thửa đất canh tác diện tích 480m2 ở khu ven đê, trước cửa đình. Vợ chồng ông đã làm 3 gian nhà tranh, bếp và cồng trình phụ. Sau đó Hợp tác xã cấp thêm 100m2 đất theo tiêu chuẩn bộ đội ở sát thửa đất này. Tổng cộng vợ chồng ông có 580m2 đất nên đã trồng cây và trực tiếp sử dụng thửa đất, ông để bà Hảo vợ ông mang tên thửa đất này”.
“Năm 1972, ông và bà Hảo ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã công nhận sự thỏa thuận: Ông thanh toán cho bà Hảo 100đ về giá trị 2 gian bếp và chuồng lợn để ông sở hữu toàn bộ tài sản và sử dụng thửa đất. Năm 1974 ông Cát kết hôn với bà Vũ Thị Nữ là người cùng đơn vị với ông, vì hai người đều là bộ đội nên được ở nhà của đơn vị, còn đất ở quê thì khóa cửa chỉ ngày nghỉ vợ chồng ông mới về nghỉ ngơi.
Đến năm 1978, có đợt kê khai ruộng đất, theo quyết định ly hôn ông được kê khai đất thay bà Hảo, đứng tên ông sử dụng hơn 600m2 tại mảnh đất này”. “Năm 1980, do mâu thuẫn gia đình giữa vợ chồng ông Tập (em trai ông) với mẹ chồng (cụ Dậu) và em gái chồng (bà Vân) thì vợ chồng ông Tập đến ở nhờ nhà đất của ông. Trong quá trình sử dụng nhà, năm 1987, ông Tập đã xây nhà trên phần đất lấn chiếm hồ, và tự ý kê khai toàn bộ đất với xã để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông Cát không biết. Năm 1994, ông Tập dỡ bỏ nhà tranh cũ của ông Cát mà không có ý kiến gì với ông. Năm 2006, ông Cát yêu cầu ông Tập giao lại một phần đất để xây nhà, nhưng ông Tập không đồng ý”.
Trao đổi với ông Tập, chúng tôi được biết: “Gia đình bố mẹ tôi có 4 anh chị em, anh cả của tôi là anh Cát, sau đó đến anh Tường, tiếp là chị Vân và tôi là con út trong nhà. Bố tôi tên là Nguyễn Sinh Nông và mẹ là Phạm Thị Dậu, cả đời bố mẹ tôi đã vất vả vì con vì cái, mà đến khi mẹ tôi nhắm mắt cũng không yên” ông Tập nghẹn ngào.
“Thửa đất 480m2 đang tranh chấp là mảnh đất của bố mẹ tôi. Mảnh đất này trồng cây ăn quả và trồng lúa. Mảnh đất còn lại là nơi ở và thờ cúng tổ tiên, có một căn nhà gỗ, cách đây cũng không xa. Năm 1958, anh Cát đi làm công nhân thủy lợi. Năm 1965, anh vào bộ đội và cưới chị Hảo. Một năm sau chị Hảo sinh cháu gái, hai mẹ con cháu thời gian đó ở nhà ngoại và anh tôi vẫn bận công tác trong quân đội. Thời gian ở bên ngoại thấy hai mẹ con chị Hảo khó khăn về chỗ ở, mẹ tôi đã mua ba gian nhà tre của cụ Nguyễn Văn Vui người cùng làng và nhờ người dựng lên trên mảnh đất 480m2, có xác nhận của người nhà cụ Vui và người dựng nhà”.
“Ngày 23/2/1972, là một ngày buồn của gia đình tôi, anh Tường hy sinh trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cũng trong thời gian này, ngày 27/3/1972 anh Cát và chị Hảo ly hôn theo bản án sơ thẩm số 3 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng”.
“Năm 1974, tôi lấy bà Thắng là vợ tôi hiện nay. Năm 1975, mẹ tôi cho vợ tôi ra ở riêng trên thửa đất trong đê (thửa đất có một phần diện tích đang tranh chấp) với ba gian nhà tre”. Lý do mẹ muốn vợ chồng tôi ở trên thửa đất là để thờ cúng anh trai tôi, Liệt sĩ Nguyễn Sinh Tường, còn khu đất có nhà thờ là mẹ tôi mong muốn sau khi đi bộ đội về, anh Cát sẽ thờ phụng tổ tiên”. (Có xác nhận của hàng xóm là ông Tập đã ở từ năm 1975).
“Năm 1985, mẹ tôi thường hay ốm đau, sợ có mệnh hệ gì mà không kịp dặn dò các con, nên mẹ tôi đã mời ông Nguyễn Sinh Mùi – Trưởng họ, dưới sự chứng kiến của ông Nguyễn Sinh Bính trong họ, làm bản di chúc để lại thửa đất vườn và toàn bộ tài sản trên đất cho tôi”.
“Ngày 20/1/1986, tôi được UBND thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất”.
“Năm 1995 vợ chồng tôi hoàn thiện nhà và xây dựng công trình phụ đồng thời phá bỏ nhà tranh, bếp. Từ đó vợ chồng tôi ở ổn định trên thửa đất hơn 20 năm không có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện hay phản đối của bất kỳ ai”.
Sự việc có lẽ không dai dẳng và đau buồn đến thế nếu như năm 2006 người anh là ông Cát không đưa đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.
Bà Vân, em gái của ông Cát cũng là chị gái ông Tập tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, nét mặt đượm buồn, kể: “Ngay sau khi có bản án 155 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, gia đình tôi rất buồn, mẹ tôi đã ốm suốt mấy ngày, không biết thế nào mà tòa lại xử như thế?. Mẹ tôi đã phải nhờ hàng xóm đến viết giấy và điểm chỉ không chấp nhận bản án 155 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, không lâu sau mẹ tôi mất”.
Khi được hỏi có hay không việc: “Năm 1980, do mâu thuẫn gia đình giữa vợ chồng ông Tập (em trai ông) với mẹ chồng (cụ Dậu) và em gái chồng (bà Vân) thì vợ chồng ông Tập đến ở nhờ nhà đất của ông Cát”, bà Vân khẳng định không hề có chuyện này, “Thằng Tập nó ra đấy từ năm 75”, bà Vân cho biết.

Nhiều quyết định có vội vàng, bất thường của Tòa án?
Theo bản án số 05/2007/DS-ST, ngày 18/4/2007, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng quyết định:
1. “Xác nhận 580m2 đất trị giá 1.160.000.000 đồng nằm trên diện tích 817m2 ở thửa số 115, tờ bản đồ số 2, thôn Bá Nội, xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Tây là của ông Nguyễn Văn Cát cho ông Nguyễn Sinh Tập ở nhờ”.
2. “Buộc ông Nguyễn Sinh Tập và bà Phạm Thị Thắng phải trả ông Nguyễn Văn Cát 293,7m2 đất”.
Nhưng không lâu sau đó ngày 30/7/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) ra Bản án số 69/2007/DS-PT với quyết định “Xử hủy bản án số 05/2007/DSST” với nhiều lý do trong đó:
1.“Việc Tòa án cấp sơ thẩm phát hành 2 bản án mà cụ Dậu tham gia với 2 tư cách khác nhau. Bản án cụ Dậu được Tòa án cấp thì cụ là nhân chứng (không được quyền tranh tụng, không được quyền kháng cáo), còn bản án trong hồ sơ vụ án lại xác định cụ Dậu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến đương sự có nhiều thắc mắc, khiếu nại”.
2.“Mặt khác, theo nguyên đơn khai năm 1966, được mẹ (cụ Dậu) cho 480m2 đất, sau đó được chính quyền cấp thêm 100m2 đất theo tiêu chuẩn gia đình bộ đội, Tổng cộng là nguyên đơn có quyền sử dụng hợp pháp 580m2 đất. Trong khi theo sổ sách lưu trữ ở phòng Tài nguyên thì thời điểm 1976 thửa đất tranh chấp đứng tên bà Lê Thị Hảo (vợ ông Cát) chỉ có 14 thước (336m2) Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ diện tích đất này cũng như làm rõ có việc chính quyền địa phương cấp cho gia đình ông Cát 100m2 đất không. Nhưng đã xác định ông Cát có quyền sử dụng hợp pháp 586/860m2 đất là chưa có căn cứ chắc chắc chắn”.
Điều này cho thấy Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã không thu thập đầy đủ chứng cứ vụ án và không tôn trọng ý chí nguyện vọng của cụ Dậu, người có tiếng nói quyết định về tài sản của mình.
Tiếp theo đó, ngày 8 tháng 8 năm 2008, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội ra bản án số 04/2008/DSST quyết định “Xác nhận 480m2 đất có giá trị 960.000.000 đồng nằm trong diện tích 817m2 đất ở số thửa 115 tờ bản đồ số 2 lập năm 1996 tại thôn Bá Nội xã Hồng Hà huyện Đan Phượng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn Cát”. Cơ sở pháp lý “Áp dụng theo khoản 3 điều 42 nghị định 181 ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành lật đất đai 2003, điều 136, 105 luật đất đai. Điều 255, 256, 688 BLDS”.
Trong khi đó bản án 155/2008/DSPT ngày 22,24/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà nội quyết định “Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2008/DSST ngày 08/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.
Cụ thể: Xác nhận 480m2 đất có giá trị 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng) nằm trong diện tích 817m2 đất số thửa 115 tờ bản đồ số 2 lập năm 1996 tại thôn Bá Nội, xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn Cát”. Cơ sở pháp lý “Áp dụng Nghị quyết số 58 ngày 20/8/1998 của UBTVQH về giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 1/7/1991 và Thông tư liên tịch số 01/TANDTC- VKSTC ngày 25/1/1999 và Điều 275, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự”.
Tại sao một việc mà các cách áp dụng cơ sở pháp lý lại khác nhau, ?.
“Sao bản án sơ thẩm số 04/2008/DSST ngày 8/8/2008 sau khi lên phúc thẩm lại thành số 01/2008/DSST ngày 08/8/2008” hay là hai bản án này khác nhau? Hay là do lỗi đánh máy giống như khi thay đổi cụm từ “về hai gian nhà bếp và chuồng lợn” thành“sở hữu toàn bộ tài sản và sử dụng thửa đất”? một người dân đặt câu hỏi.
Đây có phải là câu truyện cây khế thời hiện đại?
Theo phóng viên tìm hiểu, có nhiều điểm nghi vấn cần làm rõ như sau:
1. Là khác nhau giữa lời khai của ông Cát và mẹ ông, giữa ông Cát và ông Tập, giữa ông Cát và những người lớn tuổi ở quanh mảnh đất tranh chấp.
Ông Cát có khai trong các bản án là “Năm 1980, do mâu thuẫn gia đình giữa vợ chồng ông Tập (em trai ông) với mẹ chồng (cụ Dậu) và em gái chồng (bà Vân) thì vợ chồng ông Tập có đến ở nhờ nhà đất của ông”. Nhưng trong lời khai của ông Tập: “Năm 1975, vợ chồng ông được cụ Dậu cho đến ở và sử dụng”, theo di chúc của cụ Dậu. “Ngày 26/4/1975, tôi cho con trai tôi là Nguyễn Sinh Tập lên ở riêng trên mảnh đất đó”. Về phía hàng xóm tại mảnh đất tranh chấp, những người lới tuổi khẳng định, “vợ chồng ông Tập ở đây từ năm 1975” và có xác nhận bằng văn bản.
2. Tại bản án ly hôn sơ thẩm số 03 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng ngày 27/3/1972 giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Cát và bị đơn là bà Lê Thị Hảo, tòa quyết định: “Xử công nhận cho anh Cát được ly hôn chị Hảo; Xử công nhận sự thỏa thuận của anh Cát là thanh toán trả chị Hảo số tiền 100 đồng (Một trăm đồng) về hai gian nhà bếp và chuồng lợn; Xử công nhận thỏa thuận của hai bên để mỗi bên giữ nuôi một cháu. Anh Cát giữ nuôi cháu Hiền 6 tuổi, chị Hảo nuôi cháu Hà 3 tuổi”.
Trong bản án số 04/2008/DSST ngày 8/8/2008 có ghi: “Năm 1972, ông Cát ly hôn bà Hảo, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng đã công nhận sự thỏa thuận: Ông Cát thanh toán 100 đồng cho bà Hảo về giá trị 2 gian bếp và chuồng lợn để ông sở hữu toàn bộ tài sản và sử dụng thửa đất”. Cụm từ “sử dụng thửa đất” có thêm này Hội đồng xét xử sơ thẩm lấy ở đâu ra?
3. Theo lời khai của ông Cát: “Vợ chồng ông đã làm 3 gian nhà tranh, bếp và công trình phụ” nhưng theo Tường trình ngày 26/4/2007, bà Hảo cho rằng nhà là của cụ Dậu” còn theo phóng viên thu thập được thì năm 1963 cụ Dậu có mua của cụ Nguyễn Văn Vui thôn Bồng Lai và có thuê người khiêng về dựng lên mảnh đất giáp đê, hiện là mảnh đất tranh chấp (có xác nhận của những người khiêng nhà và bán nhà năm 1963). Như vậy, ông Cát làm 3 gian nhà là có hay không? và ở đâu?
4. Về phía bà Hảo, ông Cát cho biết, sau khi ly hôn, bà Hảo mua được 7 thước đất thổ cư của cụ Tỉnh sau Miếu Diều thuộc cụm 4 xã Hồng Hà, được Hợp tác xã cấp 3 thước đất 5% tại đồng Chăm, xã Hồng Hà, được cấp 10 thước đất thổ canh cấy lúa cũng tại đồng Chăm.
Năm 1981, bà bán nhà đất cho bà Lý Lệ và trả đất cho Hợp tác xã để đi làm kinh tế mới tại Lâm đồng.
Liệu có sự trùng hợp nào giữa 480m2 đất của bà Hảo có được sau khi ly hôn (7+3+10 = 20 thước x 24m2 = 480m2. Một thước bắc bộ = 24m2) với diện tích đất tranh chấp tại nhà ông Tập? diện tích đất này của bà Hảo đứng tên trong sổ mục kê năm 1976 là làm mới hay chép lại thời kỳ bà còn ở trên phần diện tích đất của cụ Dậu năm 1967? Mặt khác có hay không việc năm 1978 ông Cát đứng tên sử dụng hơn 600m2 đất? và mảnh đất đó ở đâu?
5. Ngay sau khi có bản án số 155/2008/DSPT của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, “Chi cục THADS huyện Đan Phượng đã áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với gia đình ông Nguyễn Sinh Tập và vợ Phạm Thị Thắng để giao lại cho ông Cát sử dụng phần đất 267m2”.
Ngày 8 tháng 6 năm 2009 diện tích đất trên được UBND huyện Đan Phượng cấp Giấy chứng nhận.
Cũng trong thời gian này, ông Cát đã nhanh chóng chia lô và bán cho anh Nguyễn Khắc Tuyến sinh năm 1972, trú tại xã Hồng Hà một phần bên cạnh đó bán cho chị Nguyễn Thị Lai sinh năm 1965 trú tại cụm 6, xã Hồng Hà một phần khác của diện tích đất.
Tại tất cả các phiên tòa cụ Dậu vẫn luôn kiên định ý kiến cho rằng “việc ông Nguyễn Văn Cát đòi quyền sử dụng mảnh đất này là không có cơ sở căn cứ pháp lý, mảnh đất này trước năm 1975 vẫn thuộc quyền sở hữu quản lý sử dụng của tôi, tôi chưa bao giờ tuyên bố cho ông Nguyễn Văn Cát bằng lời nói cũng như thể hiện bằng văn bản” (theo tờ trình của cụ Dậu năm 2007).
Nguyện vọng của cụ Dậu trong tất cả các buổi hòa giải của cơ quan chức năng và chính quyền là mong anh Cát về thờ phụng tổ tiên trên ngôi nhà 5 gian của ông bà, còn mảnh đất tranh chấp là cho ông Tập để ông thờ phụng liệt sĩ Nguyễn sinh Tường.
Chúng tôi sẽ tiếp tục đưa tin về việc này.
PV
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Dù bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật, quyền sử dụng đất hợp pháp đã được xác lập rõ ràng, nhưng đến nay, ông Trịnh Ngọc Lâm (trú tỉnh Đắk Lắk) vẫn chưa thể nhận lại phần đất của mình. Quá trình thi hành án kéo dài, nhiều lần bị “đứng lại”, khiến người thắng kiện rơi vào cảnh mòn mỏi chờ công lý được thực thi.
Thuỳ Anh
(Thanh tra) - Ngày 21/12, Công an tỉnh Thanh Hoá thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thanh Hóa đã điều tra, làm rõ vụ "người chết" cách đây 5 năm, bỗng sống lại. Quá trình điều tra, xác minh, bằng các biện pháp nghiệp vụ và tinh thần tấn công trấn áp quyết liệt đối với tội phạm, lực lượng công an đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, buộc Nguyễn Thị Thu phải cúi đầu nhận tội và khai nhận hành vi “giả chết” của mình để trục lợi bảo hiểm tại phường Quang, tỉnh Thanh Hoá.
Hương Trà
Trọng Tài
Lê Hữu Chính
Hữu Anh
Hương Giang
Ngọc Trâm
Đăng Tân
Văn Thanh
Đăng Tân
Chu Tuấn
Văn Thanh
Đan Anh
Thanh Lương
Thanh Thảo
Hương Giang
Hương Trà