Sản xuất trang sức trong nước: Không có bột sao gột nên hồ?

Cập nhật: 03/07/2016 15:40

(Thanh tra) - Theo Hội đồng Vàng Thế giới, quý I/2016, trong khi thị trường vàng nữ trang thế giới giảm khá mạnh, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này ở Việt Nam lại tăng. Cụ thể, năm 2015, nhu cầu vàng nữ trang ở Việt Nam khoảng 15,6 tấn; riêng quý I/2016 là 4,7 tấn (tăng 6% so với cùng kỳ năm trước). Rõ ràng, sản xuất trang sức trong nước đang có "đầu ra" nhưng khó khăn lại nằm ở chính "đầu vào".

Sản xuất trang sức trong nước: Không có bột sao gột nên hồ?

4 năm, không DN nào được vay vốn

Vừa qua, Hiệp hội Kinh doanh Vàng đã "kêu cứu" tại Văn bản số 27/2016/CV-HHV gửi Thủ tướng Chính phủ xin bãi bỏ 6 giấy phép con. Trong đó, Hiệp hội đề nghị bãi bỏ quy định doanh nghiệp (DN) sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ chỉ được vay vốn tín dụng khi có sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại Thông tư số 33/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Bởi thực tế, trong hơn 4 năm qua, chưa có DN nào được vay vốn để sản xuất, kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ. NHNN cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc, điều kiện và thủ tục trình Thống đốc NHNN xin vay vốn để sản xuất, kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ.

Trên thực tế, vàng trang sức, mỹ nghệ là hàng hóa thông thường không thuộc đối tượng hạn chế kinh doanh có điều kiện theo quy định hiện hành của pháp luật. Nếu NHNN hạn chế quyền vay vốn của DN thì sẽ trái với tinh thần Nghị quyết 35 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển DN đến năm 2020, đó là nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các DN, không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực như vốn, tài nguyên, đất đai… và đầu tư kinh doanh. 

Hơn nữa theo Luật Đầu tư 2014, hoạt động vay vốn tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh trang sức, mỹ nghệ không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

DN vay vàng của dân vướng quy định chưa rõ ràng

Theo số liệu của Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, căn cứ vào báo cáo của Hội đồng vàng thế giới, người dân Việt Nam đang giữ khoảng vài trăm tấn vàng. Đây chính là nguồn lực rất quý báu nhưng đang nằm chết trong dân. Trong khi đó, người dân vẫn còn tâm lý giữ vàng để "phòng thân" và họ muốn số vàng tích cóp được bảo toàn nên sẵn sàng đem gửi Ngân hàng ngay cả khi không có lãi. Với mức lãi suất vay vàng chỉ khoảng 1 - 1,2%/năm thì người dân cũng chẳng vì thế mà ham lãi còn DN kinh doanh vàng chỉ phải trả lãi suất rất nhỏ so với thời kỳ hoàng kim ngân hàng thương mại trả tới 4 - 5%/năm cho dân. Như vậy, rõ ràng sẽ an toàn cho dân và khơi vốn cho sản xuất.

Ảnh minh họa

Mặt khác, nếu như NHNN chưa đủ điều kiện để cho lập Sàn vàng thì ít nhiều số vàng của dân cũng được đem lưu thông bằng hình thức vay mượn và đem vào sản xuất nữ trang, làm giảm đi phần nào tình trạng vàng “gối đầu giường” như hiện nay.

Bên cạnh đó, cũng cần phải nói thêm việc vay vàng của dân cũng làm giảm nhu cầu nhập khẩu vàng trong nước, chảy máu ngoại tệ, ngược lại với quan ngại đô la hóa thiếu căn cứ.

Xem xét ở khía cạnh pháp lý, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 không quy định về điều kiện huy động vàng đối với các DN, do đó hoạt động huy động vàng của các DN được điều chỉnh theo quy định tại Luật Đầu tư 2014, Luật DN 2014 và Bộ Luật Dân sự 2005. Theo quy định tại Luật Đầu tư 2014, việc DN vay vàng của các tổ chức, cá nhân không thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Hơn nữa, hoạt động này cũng không thuộc hoạt động kinh doanh vàng khác quy định tại Nghị định 24. Bởi các DN chỉ vay vàng để làm vàng nguyên liệu cho sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và trả lãi cho người gửi, chứ DN không cho vay lại, không thu phí giữ hộ. Như vậy, hoạt động vay vàng của DN chỉ là một công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ và nó không phát sinh lợi nhuận. Vì vậy, Hiệp hội kinh doanh Vàng Việt Nam đề nghị NHNN và Bộ Tư Pháp không nên coi hoạt động huy động vàng của các DN là hoạt động kinh doanh vàng khác để áp đặt DN phải xin phép cơ quan quản lý Nhà nước.

DN kinh doanh vàng không được phép nhập khẩu vàng

Nhu cầu cần có nguyên liệu đầu vào cho bất cứ ngành sản xuất nào cũng là yếu tố sống còn với doanh nghiệp. Nhập khẩu vàng nguyên liệu cho sản xuất nữ trang là yêu cầu chính đáng của các DN sản xuất nữ trang. Với các DN này thì đầu vào của ngành chính là vàng nguyên liệu. 

Câu hỏi đặt ra là: Nếu như không được nhập khẩu vàng thì ngành này lấy gì để sản xuất? Câu trả lời từ thực tiễn là mua trôi nổi trên thị trường mà thôi. Vàng trôi nổi chủ yếu là vàng nhập lậu. Chỉ cần 1 kg vàng kích thước bằng bao thuốc lá giấu trong người là có thể kiếm lời dễ dàng từ 10 - 20 triệu đồng. Dù có lực lượng biên phòng hải quan hùng hậu đến đâu cũng khó có thể kiểm soát được hàng ngàn km đường biên với các nước láng giềng đang mua bán vàng nguyên liệu thoải mái và chẳng thuế má gì. Vậy thì vàng lậu cứ tuồn vào ta. Câu chuyện cuối năm 2015, việc một tiệm vàng ở Đồng Nai dính cú lừa mua phải vàng nguyên liệu dởm trị giá hơn 10 tỉ đồng gây chấn động giới kim hoàn vẫn được các DN lấy làm bài học.

Mặt khác, vàng nước ngoài rẻ hơn thị trường trong nước vài trăm ngàn đến cả triệu đồng 1 lượng, người sản xuất dù biết chi phí đắt đỏ cũng vẫn phải mua để duy trì hoạt động của mình và họ sẽ phải tính vào giá thành sản phẩm. Cuối cùng, người tiêu dùng sẽ phải chịu thiệt vì mua sản phẩm với giá cao so với quốc tế.

Vậy tại sao không thể cho phép các DN sản xuất trang sức chân chính được nhập khẩu vàng phục vụ cho nhu cầu sản xuất của họ? Kể từ khi Nghị định 24 có hiệu lực đến nay đã gần 5 năm, chưa một hạt vàng nguyên liệu nào được nhập khẩu chính thức thì đủ hiểu là ngành sản xuất trang sức khốn khổ thế nào rồi. Có người lo ngại rằng nhập khẩu vàng thì sẽ đưa đến tình trạng vàng hóa hoành hành. Nhưng một khi NHNN đã “giữ cầu dao điện” của cái máy dập vàng SJC và không cho phép các thương hiệu vàng miếng khác được sản xuất thì đâu còn tình trạng tùy tiện cung ứng vàng miếng ra thị trường?

Mai Vân

 

cheap breitling replica best watches replica Breitling watches replica