Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh.

Kế hoạch hành động của Chính phủ cũng cụ thể hóa nhiều nhiệm vụ liên quan đến tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, chuyển đổi số, quản trị, đào tạo và đơn giản hóa các quy định để tạo điều kiện cho khu vực này phát triển.

Nhưng từ một hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp, từ một doanh nghiệp nhỏ trở thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, hay từ một doanh nghiệp công nghệ trở thành lực lượng có thể đảm nhận những bài toán lớn, khoảng cách không chỉ nằm ở quy mô vốn. Đó còn là khả năng tiếp cận nguồn lực, năng lực công nghệ, chất lượng nhân lực, khả năng kết nối thị trường và cách thức chính sách được tổ chức thực hiện.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 68, cần giúp doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn vốn phù hợp từng giai đoạn phát triển, chi phí hợp lý và thủ tục minh bạch.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông cho rằng cần đồng thời giải quyết ba vấn đề là khả năng chứng minh năng lực trả nợ, thiếu tài sản bảo đảm và khả năng tiếp cận nguồn vốn trung, dài hạn.

Điểm quan trọng là thay đổi cách nhìn về khả năng tiếp cận tín dụng. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, cần đổi mới phương thức thẩm định, tăng trọng số đánh giá dòng tiền và hiệu quả kinh doanh. Một doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, khách hàng uy tín, lịch sử thanh toán tốt cần được xem xét cấp vốn dựa trên chính những nền tảng đó.

Ảnh: Thanh Lương

“Dữ liệu” vì vậy trở thành một phần quan trọng của bài toán vốn. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, ngân hàng cần khai thác hiệu quả dữ liệu hóa đơn điện tử, doanh thu, thanh toán và hợp đồng thương mại để đánh giá khả năng trả nợ. Đây cũng là hướng được Chính phủ xác định trong kế hoạch thực hiện Nghị quyết 68, trong đó khuyến khích cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu thanh toán và chuỗi cung ứng.

Từ góc nhìn này, một doanh nghiệp nhỏ cung ứng linh kiện cho nhà sản xuất lớn có thể được tài trợ dựa trên khoản phải thu đã được bên mua xác nhận, kết hợp kiểm soát dòng tiền thanh toán. Cách làm này vừa giúp ngân hàng có thêm cơ sở quản trị rủi ro, vừa mở rộng cơ hội vay vốn cho doanh nghiệp có năng lực sản xuất nhưng ít tài sản thế chấp.

Đây cũng là điểm giao giữa chính sách tài chính và mục tiêu lớn hơn của Nghị quyết 68 là không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại, mà tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục phát triển và lớn lên.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, cần củng cố năng lực các quỹ bảo lãnh tín dụng, thiết kế cơ chế phối hợp rõ với ngân hàng về thẩm định, trách nhiệm bảo lãnh và xử lý tổn thất. Cơ chế bảo lãnh nên hướng đến doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm, đồng thời vẫn duy trì trách nhiệm thẩm định, giám sát của bên cho vay.

Cùng với đó là phát huy Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị quyết 198/2025/QH15 đã quy định các chức năng như cho vay, hỗ trợ vốn ban đầu cho khởi nghiệp sáng tạo và đầu tư vào các quỹ để tăng nguồn cung vốn. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, cần tập trung tổ chức thực hiện với tiêu chí rõ, hồ sơ phù hợp quy mô doanh nghiệp và thời gian xử lý có thể dự báo.

"Như vậy, câu chuyện vốn không chỉ là “có thêm tiền”, mà là thiết kế một hệ thống tài chính nhìn thấy được năng lực thực của doanh nghiệp", ông nói

Nếu PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nhìn vào “mạch vốn”, thì từ góc độ công nghệ, ông Đào Phương Nam, Giám đốc CMC OpenAI, đặt vấn đề ở một tầng khác, làm thế nào để doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt doanh nghiệp công nghệ, biến năng lực thành sản phẩm và tham gia sâu hơn vào những nhiệm vụ lớn.

Theo Giám đốc CMC OpenAI, cơ hội lớn mà Nghị quyết 68 mở ra là tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ tư nhân tham gia những nhiệm vụ chiến lược của đất nước, qua đó phát triển năng lực công nghệ và sản phẩm Việt Nam. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần nguồn lực lớn và thời gian dài để hình thành năng lực.

Ảnh: Thanh Lương

Từ thực tiễn phát triển hạ tầng điện toán đám mây và hệ sinh thái AI tại CMC, ông Đào Phương Nam cho biết doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội kết nối năng lực nghiên cứu với nhu cầu chuyển đổi của cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp. CMC đã phát triển CMC Cloud và nền tảng C-OpenAI theo hướng phục vụ những nhu cầu đó.

Tuy nhiên, với AI, điều quan trọng không chỉ là sở hữu công nghệ mà phải đưa công nghệ vào những công việc cụ thể như hỗ trợ xử lý hồ sơ, khai thác tri thức, nâng cao năng suất và chất lượng phục vụ. Khi nhu cầu được xác định rõ và có cơ chế triển khai phù hợp, doanh nghiệp có thể đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, tích lũy công nghệ lõi và mở rộng thị trường.

Theo ông Nam, doanh nghiệp cần chủ động ba việc đó là đầu tư dài hạn cho nghiên cứu, dữ liệu, nền tảng và nhân lực chất lượng cao; gắn nghiên cứu với bài toán và hiệu quả sử dụng; đồng thời tăng cường liên kết theo mô hình “3 Nhà”.

Trong đó, Nhà nước định hướng, đặt hàng những bài toán cần giải quyết; nhà trường, viện nghiên cứu đóng góp tri thức và đào tạo; doanh nghiệp phát triển sản phẩm, triển khai và thương mại hóa. Với AI, độ tin cậy, bảo mật và khả năng vận hành cần được tính ngay từ đầu.

Nếu được cụ thể hóa bằng nhiệm vụ chung, trách nhiệm rõ ràng và cơ chế chia sẻ kết quả, mô hình này có thể tạo thêm con đường để doanh nghiệp tư nhân từ quy mô nhỏ từng bước tham gia những bài toán lớn hơn.

Ở đây, “lớn” không chỉ được đo bằng vốn hay số lao động. Với doanh nghiệp công nghệ, đó còn là khả năng làm chủ một năng lực, tạo ra một sản phẩm, giải quyết một bài toán và mở rộng thị trường.

Một nền kinh tế tư nhân mạnh không thể chỉ dựa vào một số doanh nghiệp lớn. Sức mạnh còn nằm ở mạng lưới từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa đến các doanh nghiệp chuyên ngành, những chủ thể có khả năng hình thành lĩnh vực mới.

Nghị quyết 68 và kế hoạch hành động của Chính phủ đã dành nhóm nhiệm vụ riêng cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, trong đó có đơn giản hóa chế độ tài chính, kế toán, thuế, bảo hiểm; cung cấp nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung, tư vấn pháp lý và đào tạo quản trị, kế toán, thuế, nhân sự, pháp luật.

Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp các chủ thể kinh doanh tăng năng lực, thay vì chỉ giải quyết khó khăn trước mắt.

Ảnh: Thanh Lương

Ở góc độ y tế tư nhân, ông Nguyễn Công Minh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tổ hợp Y tế Phương Đông, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông cho rằng Nghị quyết 68 không chỉ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn mà còn xác lập doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể của quá trình phát triển.

Theo ông, y tế tư nhân có cơ hội mạnh dạn đầu tư, nâng cao năng lực chuyên môn, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào hệ thống y tế quốc gia. Từ thực tế hoạt động, ông chỉ ra 5 động lực chính là vốn, công nghệ, nhân lực, chất lượng và hợp tác công - tư.

Trong đó, vốn giúp huy động nguồn lực xã hội cho bệnh viện, trung tâm chuyên khoa, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và kỹ thuật cao. Nhưng điều quan trọng không phải có thêm bao nhiêu bệnh viện, mà là tạo thêm bao nhiêu năng lực y tế chất lượng cao cho xã hội.

Công nghệ cũng không thể chỉ dừng ở cơ sở vật chất mà phải gắn với năng lực chuyên môn, từ bệnh án điện tử, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh đến phẫu thuật ít xâm lấn và chăm sóc sức khỏe số. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tuyển dụng sang xây dựng đội ngũ, coi đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác chuyên môn là khoản đầu tư chiến lược.

Ông Nguyễn Công Minh cũng nhấn mạnh chất lượng phải được đo bằng an toàn người bệnh, hiệu quả điều trị, chất lượng chuyên môn, trải nghiệm và tính minh bạch; trong khi hợp tác công - tư cần cơ chế phù hợp, công khai, minh bạch, hướng đến nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Ảnh: Thanh Lương

Ở góc nhìn quốc tế, ông Marco Abbiati, Tham tán Khoa học và Công nghệ, Đại sứ quán Ý tại Việt Nam cho rằng khu vực tư nhân giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển bền vững. Nếu đầu tư cho bảo tồn thường gắn với khu vực công, thì hoạt động kinh doanh và việc thực hiện các mô hình kinh doanh bền vững có sự tham gia quan trọng của khu vực tư nhân.

Theo đó, doanh nghiệp tư nhân cần nhìn nhận tính bền vững không chỉ là yêu cầu cần đáp ứng mà phải trở thành một ưu tiên trong quá trình phát triển. Bởi nếu không chú trọng đến tính bền vững, doanh nghiệp tư nhân khó duy trì hoạt động lâu dài. Tính bền vững không chỉ liên quan đến môi trường mà còn bao gồm phúc lợi của con người, theo ông Marco Abbiati.

Nhìn tổng thể, để kinh tế tư nhân có thêm những lực lượng mới, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực của chính mình. Vốn phải đi theo dòng tiền và năng lực thực; công nghệ gắn với bài toán thực tế; nhân lực là khoản đầu tư dài hạn; chính sách hỗ trợ rõ, minh bạch và phù hợp từng nhóm doanh nghiệp.

Bài toán vì thế không chỉ là có bao nhiêu doanh nghiệp gia nhập thị trường, mà là có bao nhiêu doanh nghiệp đủ sức trưởng thành, bước vào chuỗi cung ứng lớn và tạo ra năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.

Xuất bản 10/10/2026 - 06:00 Tác giả: Thanh Lương

Tin cùng chuyên mục

Bài 3: Từ doanh nghiệp nhỏ đến những lực lượng mới của kinh tế tư nhân

Bài 3: Từ doanh nghiệp nhỏ đến những lực lượng mới của kinh tế tư nhân

(Thanh tra) - Hàng triệu hộ kinh doanh cùng cộng đồng doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân trong nhiều lĩnh vực đang tạo nên lực lượng đông đảo của kinh tế tư nhân. Để lực lượng này lớn mạnh, cần khơi thông vốn, công nghệ, nhân lực, thị trường và cơ chế liên kết.

Thanh Lương

06:00 10/10/2026
Bài 1: Nghị quyết 68 mở không gian phát triển cho doanh nghiệp tư nhân

Bài 1: Nghị quyết 68 mở không gian phát triển cho doanh nghiệp tư nhân

(Thanh tra) - Nghị quyết 68 mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế tư nhân, nhưng để cơ hội trở thành động lực tăng trưởng, doanh nghiệp cần một môi trường minh bạch, nguồn lực được khơi thông và hạ tầng đồng bộ. Từ thực tiễn, các chuyên gia, doanh nhân kiến nghị những giải pháp để chính sách đi vào cuộc sống.

Thanh Lương

06:00 09/10/2026

Tin mới nhất

Xem thêm