Trong phát triển kinh tế tư nhân, chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành năng lực của từng doanh nghiệp. Với nuôi biển, lĩnh vực còn nhiều dư địa nhưng cũng đối mặt không ít rủi ro thì yêu cầu này càng rõ.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị xác lập định hướng mới đối với kinh tế tư nhân, trong đó khu vực này được xác định là lực lượng tiên phong, có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và phát triển xanh, bền vững.
Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, với một ngành kinh tế mới, có tính đột phá nhưng nhiều thách thức và rủi ro như nuôi biển công nghiệp, khu vực tư nhân có lợi thế về tính năng động, linh hoạt.
Tuy nhiên, ông cho rằng nghề nuôi biển hiện vẫn chủ yếu là các hộ gia đình, quy mô nhỏ lẻ; doanh nghiệp nuôi biển công nghiệp còn mỏng, công nghệ hạn chế, thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực chuyên nghiệp. Liên kết giữa nuôi, cung cấp thức ăn, con giống, chế biến, tiêu thụ và phân phối cũng chưa đầy đủ.
Do đó, cần tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, nhất là vốn trung và dài hạn; hỗ trợ lãi suất, ưu đãi thuế, phát triển hạ tầng vùng nuôi biển công nghiệp tập trung; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đào tạo nhân lực và các chuỗi giá trị nuôi biển.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng cũng đề nghị có quy hoạch, tạo không gian biển phù hợp để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp cận công nghệ, thiết bị nuôi biển tiên tiến.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP Nguyễn Thị Hải Bình cho rằng những nội dung có ý nghĩa thiết thực từ Nghị quyết 68 là khơi thông nguồn lực, phát triển tín dụng xanh, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.
Bà cho biết, hiện STP đã đầu tư mô hình nuôi biển công nghệ cao tại Vân Đồn, từ hệ thống lồng HDPE đến mô hình nuôi biển đa giá trị, kết hợp cá, hàu, nhuyễn thể, rong biển và hoạt động tham quan, trải nghiệm tại Farm.
“Chúng tôi muốn chứng minh rằng trên cùng một không gian biển có thể tạo ra nhiều giá trị hơn, không chỉ giá trị thủy sản mà còn giá trị về môi trường, công nghệ, dịch vụ và sinh kế cho bà con”, bà Hải Bình nói.
Theo bà, để phát triển từ mô hình thực tế thành vùng nuôi quy mô lớn, bài toán đầu tiên vẫn là vốn. Nuôi biển công nghiệp cần vốn đầu tư lớn, chu kỳ dài và chịu rủi ro từ thiên tai, môi trường, dịch bệnh đến thị trường.
Vì vậy, doanh nghiệp kỳ vọng tín dụng xanh, chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các dự án xanh, tuần hoàn, đáp ứng các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) được triển khai thực tế, giúp doanh nghiệp đầu tư chuyển đổi xanh tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí phù hợp.
Cùng với vốn, doanh nghiệp cần cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm, nhân rộng mô hình mới và không gian phát triển đủ ổn định để đầu tư công nghệ, phát triển nuôi biển quy mô, hiện đại, bền vững, bà Hải Bình bày tỏ.
Nếu chính sách tạo thêm không gian phát triển thì năng lực đổi mới quyết định doanh nghiệp có nắm bắt được cơ hội hay không.
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam nhận định, doanh nghiệp trước hết cần nâng cao năng lực quản trị, áp dụng các chuẩn quốc tế như ISO, ASC, GlobalG.A.P.; số hóa quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc; đào tạo nhân lực chất lượng cao và xây dựng chiến lược dài hạn dựa trên khoa học - công nghệ, thích ứng biến đổi khí hậu.
Từ thực tiễn của Công ty TNHH Trí Tín (Khánh Hòa), Phó Tổng Giám đốc Lê Bền cho rằng Nghị quyết 68 mở ra cơ hội để doanh nghiệp phát triển, vươn ra thế giới, nhưng muốn tận dụng được cơ hội, doanh nghiệp phải tự thay đổi.
Với doanh nghiệp nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu rong biển, ông Lê Bền xác định khoa học và công nghệ là lĩnh vực ưu tiên. Nuôi biển phụ thuộc thời tiết; với rong nho, mưa lớn liên tục 2-3 ngày hoặc nước lạnh có thể làm mất cả vụ. Vì vậy, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm mà phải đầu tư nghiên cứu, cải tiến phương pháp sản xuất.
Từ năm 2004, Trí Tín đưa giống rong nho từ Okinawa (Nhật Bản) về nuôi thử tại Khánh Hòa. Hơn 20 năm qua, doanh nghiệp liên tục cải tiến phương pháp, từ kê sàn có lưới che đến phương pháp “thả vỷ” hiện nay. Theo ông Lê Bền, cách nuôi mới giúp rong sạch hơn, năng suất cao hơn và người lao động đỡ vất vả hơn.
Năm 2021, công ty thành lập Trung tâm Phát triển công nghệ Rong biển để nghiên cứu sản phẩm và giống mới. Từ đó, ông cho rằng doanh nghiệp nuôi biển cần mạnh dạn đầu tư khoa học, công nghệ và hợp tác với viện, trường.
Cùng với công nghệ, quản trị cũng phải thay đổi. Trí Tín duy trì các chứng nhận HACCP, HALAL, FDA và mã code xuất khẩu TS 611; đồng thời áp dụng chuyển đổi số trong quản lý và đào tạo thế hệ kế thừa.
Về vấn đề này, bà Hải Bình cũng cho rằng đổi mới tư duy về nuôi biển là yêu cầu quan trọng. Nuôi biển hiện đại không chỉ thay lồng bè truyền thống bằng lồng HDPE, mà phải chuyển sang phương thức sản xuất có công nghệ, tiêu chuẩn, quản trị và khả năng phát triển quy mô.
Tại STP Farm, doanh nghiệp phát triển mô hình nuôi biển đa giá trị, kết hợp cá, hàu, nhuyễn thể và rong biển theo mô hình nuôi biển đa tầng IMTA, hướng tới đa dạng sản phẩm, tận dụng nguồn dinh dưỡng và cân bằng hệ sinh thái vùng nuôi, đồng thời kết hợp du lịch, trải nghiệm.
“Chúng tôi nhận thấy trước hết phải thay đổi tư duy về nuôi biển”, bà Hải Bình nói.
Theo bà, công nghệ, quản trị và khả năng liên kết sẽ quyết định một mô hình có thể cạnh tranh và nhân rộng hay không.
Một điểm chung được các chuyên gia, doanh nghiệp nhấn mạnh là không thể phát triển đơn lẻ. Sức cạnh tranh phải được xây dựng từ cả chuỗi, từ sản xuất đến chế biến và thị trường.
Theo Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cần hình thành liên kết theo mô hình “doanh nghiệp - người nuôi - hợp tác xã - chế biến - xuất khẩu”. Doanh nghiệp giữ vai trò “đầu tàu”, ký hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ kỹ thuật, vốn, giống, thức ăn, đồng thời chia sẻ rủi ro và lợi ích với người nuôi.
Từ thực tế tại Khánh Hòa, ông Lê Bền cho biết Trí Tín hiện liên kết thu mua với khoảng 15 hộ dân quanh vùng. Lao động của công ty gần như toàn bộ là người địa phương, phần lớn là phụ nữ. Theo ông, chuỗi liên kết phải có lợi cho cả hai bên mới duy trì được ổn định, lâu dài.
Bà Hải Bình nhìn nhận ở phạm vi rộng hơn, một doanh nghiệp không thể tự mình làm hết chuỗi nuôi biển. Muốn mô hình cạnh tranh và nhân rộng cần liên kết doanh nghiệp với người dân, khoa học công nghệ và thị trường.
“Đây chính là một trong những thay đổi rất quan trọng của doanh nghiệp nuôi biển trong giai đoạn tới, từ tư duy làm riêng lẻ sang tư duy cùng xây dựng một hệ sinh thái”, bà Hải Bình chia sẻ.
Ở cấp độ ngành, PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng cho rằng quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị nuôi biển hiện chưa đầy đủ, là một trong những điểm nghẽn cần tháo gỡ để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Cùng với liên kết là yêu cầu nâng giá trị sản phẩm. Ông Lê Bền cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi tư duy cạnh tranh, không chỉ dựa vào giá rẻ mà phải dựa vào chất lượng và giá trị. Trí Tín tập trung chế biến sâu; sản phẩm rong nho tách nước của doanh nghiệp đạt chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia năm 2025.
Doanh nghiệp cũng khai thác lợi thế khác biệt của rong biển nhiệt đới Việt Nam so với rong biển ôn đới của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để xây dựng thương hiệu. Theo ông Lê Bền, sản phẩm Trí Tín đã duy trì được vị trí tại thị trường Hàn Quốc nhiều năm. Bên cạnh Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, ông cho rằng thị trường trong nước cũng là dư địa cần khai thác tốt hơn.
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung đề nghị tập trung phát triển sản phẩm giá trị gia tăng, chế biến sâu, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm xuất khẩu có chứng nhận; xây dựng thương hiệu quốc gia, mở rộng thị trường cao cấp và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, an toàn thực phẩm.
Với bà Hải Bình, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng sản lượng mà tạo ra những mô hình có công nghệ, có thị trường và có khả năng nhân rộng. Khi đó, sản phẩm nuôi biển Việt Nam có thể cạnh tranh bằng chất lượng, tiêu chuẩn và giá trị xanh, thay vì chỉ bằng giá hay sản lượng.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng nhận định nuôi biển công nghiệp ở Việt Nam mới ở điểm khởi đầu và còn nhiều thách thức. Vì vậy, cùng với hoàn thiện chính sách, cần tăng số lượng và năng lực doanh nghiệp nuôi biển, hỗ trợ doanh nhân và ngư dân đầu tư vào nuôi biển công nghiệp.
Từ câu chuyện của các doanh nghiệp có thể thấy, cơ hội từ Nghị quyết 68 không chỉ nằm ở nguồn lực và chính sách hỗ trợ mà còn đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chủ động thay đổi, đổi mới công nghệ để nâng hiệu quả, chuyên nghiệp hóa quản trị để đáp ứng tiêu chuẩn, liên kết để tạo sức mạnh của cả chuỗi, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu để nâng giá trị sản phẩm.
Đó là cách doanh nghiệp tư nhân chuyển cơ hội từ chính sách thành năng lực cạnh tranh cụ thể, từng bước hướng tới một ngành Nuôi biển có giá trị cao và bền vững.
Bài 3: Từ doanh nghiệp nhỏ đến những lực lượng mới của kinh tế tư nhân