Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong nền kinh tế và đóng góp 55 - 58% GDP đất nước. Nghị quyết được kỳ vọng sẽ mở ra kỷ nguyên đột phá cho khu vực kinh tế năng động này và cụ thể hóa các giải pháp để phát huy tối đa vai trò, đưa kinh tế tư nhân trở thành "động lực quan trọng nhất" và là "lực lượng tiên phong" của nền kinh tế.

Từ góc nhìn của TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ quốc gia, cơ hội phát triển của kinh tế tư nhân hiện nay trước hết đến từ sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức về vai trò của khu vực này.

Theo TS. Cấn Văn Lực, khi kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, khu vực này có thêm cơ sở để phát huy tiềm năng, đóng góp vào tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ảnh: Thanh Lương

Nhưng để niềm tin đó được chuyển thành những quyết định đầu tư cụ thể, điều quan trọng là phải tạo dựng được môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo. Doanh nghiệp tư nhân cần được bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh và quyền cạnh tranh bình đẳng, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.

Đây cũng là điểm nhấn trong câu chuyện của ông Phạm Quốc Long, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn GermaDept, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ Hàng hải Việt Nam (VISABA), Phó Chủ tịch Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam (VSA).

Từ thực tiễn cảng biển và logistics, ông Phạm Quốc Long cho rằng điểm rất quan trọng của Nghị quyết 68 là tạo ra một không gian phát triển mới và củng cố niềm tin cho khu vực kinh tế tư nhân. Đối với những lĩnh vực cần nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi dài và có tính kết nối cao như cảng biển, logistics, yếu tố này càng có ý nghĩa.

Theo ông Phạm Quốc Long, doanh nghiệp tư nhân có cơ hội tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng và những lĩnh vực chiến lược của nền kinh tế, từ trung tâm logistics, hạ tầng kết nối, hạ tầng số, giao thông xanh đến các mô hình hợp tác công - tư. “Không gian” phát triển vì thế không chỉ là thêm lĩnh vực đầu tư, mà còn mở khả năng tham gia những khâu đòi hỏi nguồn lực lớn, công nghệ cao và sự kết nối rộng.

Trong khi đó, TS. Cấn Văn Lực cho rằng một trong những điểm nghẽn hiện nay là khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực chất lượng cao cần được tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi hơn.

Chính sách hỗ trợ cũng cần hướng tới giảm chi phí kinh doanh, phát triển các kênh vốn mới, trong đó có vốn cho đổi mới sáng tạo và đầu tư mạo hiểm, theo TS. Cấn Văn Lực.

Nếu niềm tin là điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, thì thể chế và hạ tầng lại quyết định chi phí và khả năng triển khai dự án.

Ông Phạm Quốc Long cho rằng, với một dự án cảng hoặc logistics, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, hàng hải, hải quan... Vì vậy, điều doanh nghiệp cần không chỉ là giảm số lượng thủ tục, mà quan trọng hơn là hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch, có thể dự báo và được thực hiện thống nhất giữa các bộ, ngành, địa phương.

Theo ông Phạm Quốc Long, tiếp tục số hóa thủ tục, liên thông dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm và rút ngắn thời gian xử lý sẽ trực tiếp làm giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Từ góc nhìn rộng hơn, TS. Cấn Văn Lực cho rằng khi các quyền cơ bản của doanh nghiệp được bảo đảm và môi trường kinh doanh có tính dự báo, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin để đầu tư dài hạn, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.

Câu chuyện thể chế cũng được đặt ra với lĩnh vực công nghệ tài chính. Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Kinh doanh Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghệ BEAM cho rằng Nghị quyết 68 là sự tiếp thêm niềm tin đối với những doanh nghiệp công nghệ đã theo đuổi đổi mới trong nhiều năm.

Ông Dũng chia sẻ từ thực tế tại doanh nghiệp, BEAM đã phát triển Flexpay từ nhu cầu đưa dòng vốn chính thống tiếp cận gần hơn với người lao động. Hơn 4 năm qua, nền tảng đã đồng hành cùng hơn 80 tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp, với hơn 150.000 người lao động trong phạm vi hợp tác.

Từ thực tiễn đó, BEAM kiến nghị hành lang pháp lý cần đi trước một bước đối với các mô hình mới, ông Dũng đồng thời cho rằng, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng là tín hiệu đáng mừng nhưng phạm vi còn hẹp. Mô hình ứng lương theo ngày công (EWA) đã được triển khai ở nhiều quốc gia, trong khi Việt Nam chưa có khung quy định riêng.

Ảnh: Thanh Lương

Ở lĩnh vực cảng biển và logistics, ông Phạm Quốc Long cho rằng một điểm nghẽn khác là chi phí của cả chuỗi cung ứng. Chi phí logistics không chỉ nằm ở giá dịch vụ cảng biển hay vận tải, mà còn phát sinh từ thời gian chờ, ùn tắc, vận tải rỗng, thủ tục, lưu kho, lưu bãi và sự phụ thuộc lớn vào đường bộ.

Muốn giảm chi phí thực chất, cần tăng khả năng kết nối cảng biển với đường thủy nội địa, đường sắt và các trung tâm logistics; đồng thời tăng chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể trong chuỗi.

Theo ông Phạm Quốc Long, quy hoạch cảng biển, giao thông kết nối và các trung tâm logistics cần được nhìn trong một tổng thể thống nhất, theo dòng hàng và theo vùng kinh tế thay vì từng dự án riêng lẻ. Những “mắt xích cuối cùng” như đường kết nối vào cảng, luồng hàng hải, đường thủy, đường sắt, bến bãi và hệ thống logistics sau cảng cần được tính đồng bộ để nâng hiệu quả toàn bộ chuỗi.

Nếu Nghị quyết 68 mở thêm không gian phát triển, câu hỏi tiếp theo là làm thế nào để doanh nghiệp thực sự bước vào không gian đó với năng lực phù hợp.

TS. Cấn Văn Lực cho rằng, bên cạnh tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và nguồn lực, cần nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải chủ động đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất, quản trị và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và các đối tác trong chuỗi cung ứng.

Theo TS. Cấn Văn Lực, cần tạo điều kiện để những doanh nghiệp tư nhân có năng lực vươn lên trở thành doanh nghiệp lớn, có khả năng dẫn dắt và tham gia các dự án, chương trình quy mô lớn của đất nước. Việc Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp tư nhân cần đi kèm cơ chế cạnh tranh, minh bạch và đánh giá dựa trên hiệu quả, mức độ đóng góp.

Với riêng lĩnh vực logistics, ông Phạm Quốc Long cho rằng cơ hội lớn hơn phải đi cùng năng lực và trách nhiệm lớn hơn. Doanh nghiệp cần chủ động nâng chuẩn quản trị, đầu tư công nghệ, chuyển đổi xanh - số, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng năng lực cạnh tranh quốc tế và liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam khác.

Ở lĩnh vực công nghệ tài chính, đại diện BEAM kiến nghị khơi thông dữ liệu và hạ tầng số dùng chung. Theo doanh nghiệp, nếu được kết nối, khai thác có kiểm soát các nguồn dữ liệu như định danh điện tử, dữ liệu dân cư, chi phí xác thực và tuân thủ có thể giảm, tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp dành nguồn lực cho nghiên cứu sản phẩm và mở rộng thị trường.

Ảnh: Thanh Lương

Đại diện BEAM cũng đề xuất tạo điều kiện để sản phẩm công nghệ nội địa có cơ hội được ứng dụng; trong đó, tinh thần khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa được cụ thể hóa bằng cơ chế để các tập đoàn, khu công nghiệp và tổ chức công đoàn mạnh dạn thí điểm, ứng dụng các giải pháp công nghệ tài chính phù hợp với nhu cầu trong nước.

Ba góc nhìn từ tài chính - thể chế, cảng biển - logistics và công nghệ tài chính cùng cho thấy, không gian phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn lực, dự báo được môi trường kinh doanh và giảm chi phí để đầu tư dài hạn.

Nghị quyết 68 đặt ra yêu cầu thể chế hóa và thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kinh tế tư nhân. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 68.

Về dài hạn, TS. Cấn Văn Lực cho rằng phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp mà quan trọng hơn là nâng chất lượng và sức cạnh tranh, để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Từ đó, “mở không gian phát triển” không chỉ là mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân, mà còn tạo môi trường để những cơ hội đó được chuyển hóa thành đầu tư, sản xuất, đổi mới sáng tạo, hạ tầng và những mô hình kinh doanh mới.

Bài 2: Doanh nhân chủ động đổi mới để nắm bắt cơ hội

Xuất bản 09/10/2026 - 06:00 Tác giả: Thanh Lương

Tin cùng chuyên mục

Bài 2: Doanh nhân chủ động đổi mới để nắm bắt cơ hội

Bài 2: Doanh nhân chủ động đổi mới để nắm bắt cơ hội

(Thanh tra) - Nghị quyết 68 mở thêm cơ hội và nguồn lực cho kinh tế tư nhân. Từ thực tiễn nuôi biển, các doanh nhân, chuyên gia cho rằng doanh nghiệp phải chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường liên kết, nâng giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường.

Thanh Lương

06:00 09/10/2026
Bài 1: Nghị quyết 68 mở không gian phát triển cho doanh nghiệp tư nhân

Bài 1: Nghị quyết 68 mở không gian phát triển cho doanh nghiệp tư nhân

(Thanh tra) - Nghị quyết 68 mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế tư nhân, nhưng để cơ hội trở thành động lực tăng trưởng, doanh nghiệp cần một môi trường minh bạch, nguồn lực được khơi thông và hạ tầng đồng bộ. Từ thực tiễn, các chuyên gia, doanh nhân kiến nghị những giải pháp để chính sách đi vào cuộc sống.

Thanh Lương

06:00 09/10/2026

Tin mới nhất

Xem thêm