Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Yêu cầu đối với kết luận thanh tra từ thực tiễn thanh tra trách nhiệm

Bài 2- Rõ sai phạm, rõ trách nhiệm: Yêu cầu cốt lõi của một kết luận thanh tra

Bảo Anh

Thứ năm, 01/10/2026 - 07:15

(Thanh tra) - Một kết luận thanh tra không thể chỉ dừng ở việc chỉ ra sai phạm, hạn chế, thiếu sót mà phải làm rõ bản chất, tính chất, mức độ, nguyên nhân và trách nhiệm liên quan. Đây là cơ sở để đưa ra kiến nghị xử lý, khắc phục phù hợp và tổ chức thực hiện trên thực tế.

Đồ hoạ: Bảo Anh

Trong hoạt động thanh tra nói chung, phát hiện hành vi thực hiện không đúng quy định pháp luật là cơ sở để kết luận, nhưng chưa phải là toàn bộ nội dung của kết luận thanh tra.

Nếu chỉ dừng ở việc ghi nhận thiếu sót mà không làm rõ bản chất, nguyên nhân và trách nhiệm, kết luận khó trở thành căn cứ đầy đủ cho việc xử lý, khắc phục. Ngược lại, nếu quy trách nhiệm thiếu căn cứ, không phân biệt giữa trách nhiệm trực tiếp với trách nhiệm quản lý, điều hành, thì kiến nghị xử lý cũng khó bảo đảm chính xác và khả thi.

Đồ hoạ: Bảo Anh

Theo ông Ngô Mạnh Hùng, Phó Cục trưởng Cục I, TTCP, kết luận thanh tra trách nhiệm phải đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; kết luận về những kết quả đạt được theo nội dung thanh tra. Đồng thời, khi phát hiện hành vi vi phạm, tồn tại, hạn chế phải xác định rõ tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; đưa ra kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục phải phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân và trách nhiệm đã được kết luận.

“Có thể khái quát một trong những yêu cầu quan trọng đối với Kết luận thanh tra là phải làm rõ bản chất của vấn đề được phát hiện, nguyên nhân và trách nhiệm tương ứng”, ông Hùng nhấn mạnh.

Về yêu cầu đối với căn cứ pháp lý của kết luận, ông Hùng cho rằng, việc viện dẫn quy định pháp luật phải phù hợp với hành vi được phát hiện. Đồng thời, phải chỉ rõ nghĩa vụ pháp lý tương ứng, chủ thể có trách nhiệm thực hiện và nội dung cụ thể chưa được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ.

Tiếp đó là đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả. Đây là cơ sở để tránh việc “đánh đồng” các vi phạm, hạn chế, thiếu sót với cùng một mức độ trách nhiệm chung chung.

Phân tích cụ thể hơn, ông Hùng cho hay, một sai sót về trình tự, thủ tục nhưng không làm thay đổi kết quả giải quyết vụ việc sẽ khác với sai sót làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc làm cho kết quả thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo thiếu căn cứ. Đồng thời, theo ông Hùng, đối với thanh tra trách nhiệm, việc đánh giá này càng cần thiết bởi đối tượng được xem xét thường là quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ, đã, đang và sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.

“Một quy trình chưa được thực hiện đầy đủ có thể xuất phát từ sai sót của cá nhân trực tiếp xử lý, nhưng cũng có thể phản ánh vấn đề trong công tác tổ chức, phân công, kiểm tra hoặc chỉ đạo. Nếu không phân tích đến mức độ này, kết luận rất dễ dừng ở việc “ghi nhận sai sót” để rút kinh nghiệm lần sau thay vì làm rõ bản chất để khắc phục hậu quả và tổ chức lại hệ thống”, ông Hùng lưu ý.

Theo ông Hùng, sau khi làm rõ hành vi và mức độ ảnh hưởng, cần xác định nguyên nhân. Nguyên nhân có thể nằm ở quy trình nghiệp vụ, việc phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, năng lực của người thực hiện hoặc công tác giám sát, kiểm tra, chỉ đạo của người có thẩm quyền.

“Việc xác định nguyên nhân không nhằm giảm nhẹ trách nhiệm mà để xác định đúng trách nhiệm. Cùng một hành vi nhưng nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến cách đánh giá trách nhiệm khác nhau và đòi hỏi biện pháp khắc phục khác nhau”, ông Hùng phân tích.

Đồ hoạ: Bảo Anh

Từ yêu cầu này, ông Hùng lưu ý, trong thanh tra trách nhiệm cần phân biệt giữa người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ với người có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện và người khác có liên quan. Việc đã phân công nhiệm vụ cho cấp dưới không đương nhiên loại trừ trách nhiệm quản lý của người đứng đầu nếu pháp luật vẫn giao cho người đứng đầu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoặc kiểm tra. Nhưng ngược lại, trách nhiệm của người đứng đầu cũng không thể được suy ra một cách máy móc chỉ từ việc có sai sót xảy ra tại đơn vị thuộc quyền quản lý.

“Trách nhiệm phải được xem xét trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sự phân công và mối quan hệ giữa trách nhiệm được giao với hành vi xảy ra. Phải phân định rõ ai chịu trách nhiệm trực tiếp, ai chịu trách nhiệm liên đới và ai chỉ phải chịu trách nhiệm người đứng đầu. Đây là điểm quan trọng để bảo đảm kết luận vừa nghiêm túc, vừa công bằng và có căn cứ”, ông Hùng nhấn mạnh.

Một vấn đề khác được ông Hùng lưu ý là những thiếu sót lặp lại ở nhiều hồ sơ, nhiều cuộc thanh tra hoặc nhiều khâu nghiệp vụ. Khi đó, nguyên nhân không nên chỉ được xem xét ở từng cá nhân mà cần đánh giá cả yếu tố tổ chức, quy trình và cơ chế kiểm soát. Nếu nguyên nhân mang tính hệ thống nhưng chỉ xử lý cá nhân thì kiến nghị khó giải quyết được căn nguyên của vấn đề.

Từ việc xác định nguyên nhân và trách nhiệm, theo ông Hùng, yêu cầu tiếp theo là kiến nghị phải tương xứng, phù hợp với nội dung đã được kết luận.

“Nếu kết luận đã chỉ rõ hành vi, tính chất, mức độ vi phạm là nghiêm trọng, có hậu quả nhưng kiến nghị lại chung chung, chỉ yêu cầu kiểm điểm, nghiêm túc rút kinh nghiệm thì giữa phần kết luận và phần kiến nghị rõ ràng là chưa tương xứng, chưa phù hợp”, ông Hùng nhận định.

Theo ông Hùng, kết luận xác định vấn đề ở đâu thì kiến nghị phải hướng vào vấn đề đó. Nếu nguyên nhân là quy trình thì phải kiến nghị hoàn thiện quy trình; nếu là tổ chức thực hiện thì phải chấn chỉnh cách thức tổ chức, phân công, giám sát, kiểm tra; nếu có trách nhiệm cá nhân thì phải xác định đúng chủ thể và mức độ trách nhiệm. Nếu có hậu quả thì phải kiến nghị rõ biện pháp khắc phục. Trường hợp phát hiện bất cập về cơ chế, chính sách thì kiến nghị việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, thậm chí có thể đề xuất, kiến nghị cụ thể phương án hoàn thiện.

Đề cập đến yêu cầu này trong thanh tra trách nhiệm, ông Hùng cho rằng, Thông tư số 07/2024/TT-TTCP cũng đặt nội dung thanh tra trách nhiệm trong mối quan hệ với trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra trong tổ chức, chỉ đạo, thực hiện công tác thanh tra, cũng như công khai, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra. Vì vậy, kết luận thanh tra trách nhiệm cần được xây dựng trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh đầy đủ, sau đó chuyển hóa thành nhận định, kết luận và kiến nghị có căn cứ.

“Phát hiện đúng là điều kiện cần, nhưng kết luận đúng bản chất và xác định đúng trách nhiệm mới quyết định chất lượng của một kết luận thanh tra. Đây cũng là cơ sở để các kiến nghị thanh tra sau đó có thể được tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá một cách cụ thể và mang lại những tác động có tính hệ thống”, ông Hùng khẳng định.

Đồ hoạ: Bảo Anh

Từ những phân tích chung của chuyên gia nêu trên, nhìn vào Kết luận thanh tra số 82 có thể thấy, nhiều nội dung mới chỉ được kết luận là “hạn chế, thiếu sót”, bao gồm cả những nội dung có dấu hiệu vi phạm pháp luật thanh tra nhưng đều chưa được làm rõ đầy đủ về tính chất, mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và không có kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục cụ thể.

Thậm chí, một số thiếu sót được phát hiện ở nhiều cuộc thanh tra nhưng chưa được đánh giá về tính lặp lại, tính hệ thống; trong khi đó, phần kiến nghị chủ yếu dừng ở yêu cầu chấn chỉnh, khắc phục và tăng cường bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ.

Vấn đề đặt ra là, với những nội dung đã được phát hiện, việc đoàn thanh tra kết luận và kiến nghị như vậy đã tương xứng với tính chất, mức độ và nguyên nhân của các thiếu sót hay chưa; đã xác định đủ rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan và đưa ra biện pháp khắc phục cụ thể hay chưa? Bởi nếu kết luận chưa làm rõ bản chất, trách nhiệm, trong khi kiến nghị còn khái quát, chung chung thì sẽ khó xác định căn cứ để tổ chức thực hiện, cũng như kiểm tra, đánh giá kết quả sau thanh tra.

Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với chất lượng của một kết luận thanh tra: không chỉ phát hiện đúng, mà phải kết luận đúng bản chất, xác định đúng trách nhiệm và kiến nghị đúng, đủ, phù hợp với những gì đã được phát hiện. Khi đó, kết luận mới thực sự trở thành căn cứ cho việc khắc phục và xử lý sau thanh tra.

Bài 3: Kết luận thanh tra phải được kiểm chứng bằng kết quả thực hiện

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác số hóa hồ sơ thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác số hóa hồ sơ thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo

(Thanh tra) - Thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy, lãnh đạo Thanh tra Bộ Công an, Phòng Thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc Công an địa phương đã phát động đợt cao điểm rà soát, phân loại, chỉnh lý số hóa và cập nhập dữ liệu hồ sơ thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo, xác định có hơn 1.200 hồ sơ phải tiến hành số hóa.

Thượng tá Phạm Mạnh Hùng, Phòng 3, Thanh tra Bộ Công an

16:32 30/09/2026

Tin mới nhất

Xem thêm