Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Căn cứ xác định loại đất khi áp giá bồi thường

Nguyễn Thanh

Thứ bảy, 03/10/2026 - 09:29

(Thanh tra) - Xác định loại đất để bồi thường là khâu quan trọng khi tính bồi thường thu hồi đất, được quy định tại Điều 95 Luật Đất đai 2024...

Xác định loại đất để bồi thường là khâu quan trọng khi tính bồi thường thu hồi đất. Ảnh minh họa: Báo Lao động

Ông Phạm Văn Minh Cơ có 2 quyền sử dụng đất ở Đồng Nai và Tây Ninh, cả 2 đều là đất hỗn hợp bao gồm đất ở, đất nông nghiệp và bị quy hoạch một phần đất nhưng trong Giấy chứng nhận không thể hiện vị trí đất ở.

Ông Cơ hỏi, nếu không xác định được vị trí đất ở thì cơ quan chức năng sẽ ưu tiên đền bù cho ông đất nông nghiệp hay đất ở?

Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời như sau: Trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật Đất đai năm 2024, được sửa đổi, bổ sung tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025, Điều 14, Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ.

Theo đó, trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất và công trình xây dựng gắn liền với đất để lập phương bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản xác định loại đất, tài sản gắn liền với đất.

Do nội dung nêu của ông là vụ việc cụ thể và không có hồ sơ, tài liệu kèm theo nên Bộ Nông nghiệp và Môi trường không có cơ sở trả lời cụ thể. Đề nghị ông nghiên cứu quy định nêu trên và liên hệ với cơ quan quản lý đất đai tại địa phương để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Cũng liên quan đến xác định loại đất khi áp giá bồi thường, công dân Nguyễn Bá Thành (Gia Lai) cho biết, ông có 850m2 đất, đã xây dựng nhà ở 150m2, ở ổn định, không có tranh chấp từ năm 2001 đến nay. Nguồn gốc đất là chiếm đất đầm năm 2001.

Tháng 6/2026, Nhà nước thu hồi thửa đất vì thuộc dự án di dời khẩn cấp các hộ dân sống trong vùng có nguy cơ sạt lở núi (giai đoạn 2, gồm 68 hộ dân) và công nhận đất ở nông thôn 150m2 + HNK 700m2, trong đó: đền bù đất ở là 150m2 theo giá đất ở của địa phương ban hành và được 1 suất tái định cư 200m2, phần đất còn lại chung thửa với đất ở xác định là đất HNK 700m2 tính theo giá bồi thường của địa phương là đất HNK 179.000 đồng/m2.

Ông Thành có hỏi hội đồng bồi thường của xã là vì sao không được bồi thường loại đất vườn (bằng 44% giá đất ở) mà bồi thường loại đất HNK và được phản hồi, không công nhận đất vườn là do đất ở chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Thành hỏi, như vậy có đúng với quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không?

Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin, tại khoản 1, điểm a, điểm b, điểm g khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 9, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

"Điều 9. Phân loại đất

1. Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại bao gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng.

2. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

a) Đất trồng cây hằng năm, gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hằng năm khác;

b) Đất trồng cây lâu năm;

g) Đất nông nghiệp khác.

3. Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

a) Đất ở, gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;

… Điều 95. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Các trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bao gồm:

a) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm;

2. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được bồi thường về đất khi có một trong các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

b) Có quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 137 của Luật này;

d) Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai;

đ) Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ) quy định:

"2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 1/7/2014 mà đã sử dụng đất ổn định, thuộc các trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 139 của Luật Đất đai mà không phải đáp ứng điều kiện phù hợp với quy hoạch".

Tại Điều 9 Luật Đất đai năm 2024 quy định về phân loại đất thì không có loại đất vườn. Trong nhóm đất nông nghiệp có loại đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm.

Do đây là vụ việc cụ thể, không rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và không có hồ sơ, tài liệu kèm theo, vì thế Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị ông Thành nghiên cứu quy định nêu trên và liên hệ với cơ quan có chức năng quản lý đất đai tại địa phương để được giải quyết theo thẩm quyền.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm