Giữa không gian phát triển mới trải dài từ cao nguyên đến duyên hải, cộng đồng doanh nghiệp Gia Lai đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Không chỉ góp phần tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường, doanh nghiệp còn được kỳ vọng trở thành lực lượng chuyển hóa những lợi thế về vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến và cảng biển thành giá trị kinh tế bền vững.
Sau sáp nhập, câu chuyện phát triển doanh nghiệp của Gia Lai không chỉ nằm ở việc có thêm bao nhiêu đơn vị gia nhập thị trường. Thách thức lớn hơn là làm thế nào để doanh nghiệp hiện hữu lớn mạnh, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và đóng góp ngày càng thực chất cho tăng trưởng địa phương.
Đến cuối tháng 9/2026, Gia Lai có 2.739 doanh nghiệp thành lập mới, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên hơn 20.400. Đằng sau sự gia tăng về số lượng là một lực lượng sản xuất, kinh doanh hiện diện trong nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch, vận tải và nhiều dịch vụ thiết yếu.
Năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 80,6% GRDP tỉnh. Cần lưu ý đây là số liệu của toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả hộ kinh doanh và các chủ thể ngoài doanh nghiệp, không phải phần đóng góp riêng của hơn 20.400 doanh nghiệp. Dù vậy, tỷ trọng này cho thấy vai trò đáng kể của khu vực tư nhân đối với cơ cấu kinh tế địa phương.
Khả năng tạo việc làm cũng là một chỉ dấu quan trọng. Năm 2015, khu vực kinh tế tư nhân giải quyết việc làm cho 1.591.879 người; đến năm 2025 tăng lên 1.697.467 người. Cùng giai đoạn, năng suất lao động theo số liệu được cung cấp tăng từ 47 triệu đồng/người lên 129 triệu đồng/người, tương đương 2,74 lần. Đây là mức tăng tính theo số liệu danh nghĩa được cung cấp, chưa thể đồng nhất với mức tăng năng suất thực tế sau khi loại trừ biến động giá.
Những kết quả ấy gợi mở một hướng đi rõ nét: Bên cạnh mở rộng lực lượng doanh nghiệp, Gia Lai cần tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng quản trị và giá trị gia tăng trên mỗi lao động.
Không gian Gia Lai mới có khả năng kết nối những lợi thế bổ trợ: Phía Tây là các vùng nguyên liệu cà phê, hồ tiêu, cao su, cây ăn quả và tiềm năng năng lượng; phía Đông là các cơ sở công nghiệp chế biến, hạ tầng logistics và cửa ngõ cảng biển. Sự liên kết này tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức lại chuỗi sản xuất, giảm chi phí trung gian và tiếp cận thị trường rộng hơn.
Trong lĩnh vực cà phê, một số doanh nghiệp trên địa bàn đã có hoạt động xuất khẩu quy mô lớn, cho thấy khả năng tham gia các chuỗi thương mại quốc tế. Tỉnh cũng đã xác định 8 doanh nghiệp dẫn dắt trong các ngành công nghiệp chủ lực theo số liệu tổng hợp được cung cấp. Tuy nhiên, để khẳng định vị trí cụ thể của từng doanh nghiệp trong bảng xếp hạng xuất khẩu toàn cầu cần có tài liệu xác minh riêng.
Điểm mấu chốt không chỉ là sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu. Nếu doanh nghiệp chủ yếu bán nguyên liệu thô, phần giá trị gia tăng giữ lại còn hạn chế và dễ chịu tác động của biến động giá. Đầu tư chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu và hệ thống phân phối là con đường để doanh nghiệp tăng khả năng nắm giữ giá trị.
Với các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics và dịch vụ, cơ hội cũng đến từ việc trở thành nhà cung ứng cho những dự án đầu tư mới. Khi doanh nghiệp địa phương tham gia được chuỗi cung ứng, hiệu ứng lan tỏa của các dự án sẽ vượt ra ngoài phạm vi nhà máy hoặc khu công nghiệp.
Tại lễ kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2026, bà Nguyễn Thị Sen, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Gia Lai, nhấn mạnh vai trò của uy tín, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội trong quá trình trưởng thành của cộng đồng doanh nghiệp. Theo bà Sen, doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Doanh nghiệp cần tỉnh đẩy mạnh hơn nữa về cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch, ổn định và khả năng tháo gỡ kịp thời những khó khăn liên quan đến vốn, đất đai, thủ tục đầu tư, chi phí sản xuất và thị trường. Đây là những điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực mở rộng quy mô của doanh nghiệp.
Đối với phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tiếp cận các chuỗi cung ứng lớn vẫn không đơn giản. Một doanh nghiệp có sản phẩm tốt chưa chắc có đủ vốn, nhân lực và tiêu chuẩn để vào thị trường xuất khẩu. Vì vậy, cần phát triển các liên kết giữa doanh nghiệp dẫn dắt và doanh nghiệp vệ tinh, đồng thời tăng năng lực tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ và kết nối tiêu thụ.
"Tầm vóc của doanh nghiệp vì thế không chỉ được đo bằng doanh thu hay quy mô vốn, mà còn bằng uy tín thương hiệu, khả năng tạo việc làm bền vững và trách nhiệm đối với cộng đồng", bà Sen nhấn mạnh.
Cũng tại lễ kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, chính quyền sẽ chủ động tiếp cận, hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Đây là định hướng chuyển từ cách tiếp cận thụ động, chờ doanh nghiệp kiến nghị sang phục vụ và đồng hành với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Tinh thần đồng hành sẽ được thể hiện bằng những kết quả cụ thể: Hồ sơ được xử lý đúng hạn, thủ tục đầu tư rõ ràng, hạ tầng được kết nối, quỹ đất phù hợp được chuẩn bị và các kiến nghị chính đáng được giải quyết có trách nhiệm.
Cũng theo ông Tuấn, chính sách thu hút đầu tư chỉ tạo sức lan tỏa lớn khi doanh nghiệp địa phương có khả năng tham gia cung cấp nguyên liệu, dịch vụ và lao động kỹ thuật. Vì thế, bên cạnh mời gọi nhà đầu tư chiến lược, tỉnh cần hỗ trợ hình thành mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh, thúc đẩy liên kết giữa vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến, logistics và thị trường.
Khả năng hiện thực hóa những cam kết cải thiện môi trường kinh doanh sẽ là một trong những yếu tố quyết định việc Gia Lai có biến được tiềm năng thành dự án, biến dự án thành năng lực sản xuất và biến năng lực sản xuất thành giá trị gia tăng hay không.
Gia Lai đặt mục tiêu đến năm 2030 có 60.000-65.000 doanh nghiệp hoạt động, tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt 9,5-11,5%/năm và ít nhất 2 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đến năm 2035, tỉnh phấn đấu có khoảng 75.000 doanh nghiệp và ít nhất 5 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
So với hơn 20.400 doanh nghiệp đang hoạt động (tính đến cuối tháng 9/2026), mục tiêu năm 2030 tương đương mức tăng ròng khoảng 39.600-44.600 doanh nghiệp. Đây là một khoảng cách lớn, đòi hỏi đồng thời thúc đẩy gia nhập thị trường, nâng tỷ lệ doanh nghiệp duy trì hoạt động, hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi và cải thiện năng lực cạnh tranh.
Đặc biệt, mục tiêu phát triển doanh nghiệp không nên chỉ dừng ở số giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Điều quan trọng là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp thực sự hoạt động hiệu quả, bao nhiêu đơn vị đủ khả năng tham gia chuỗi cung ứng và bao nhiêu thương hiệu địa phương có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Để đi xa, doanh nghiệp cần đầu tư vào năng lực quản trị, chuyển đổi số, tiêu chuẩn môi trường, nguồn nhân lực và phát triển thương hiệu. Về phía chính quyền, nhiệm vụ là duy trì một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và giảm chi phí tuân thủ.
Từ vùng nguyên liệu cao nguyên đến các trung tâm công nghiệp và cảng biển, Gia Lai có những điều kiện để hình thành hệ sinh thái sản xuất, chế biến và thương mại đa dạng. Nhưng lợi thế tự nhiên và vị trí địa lý sẽ không tự chuyển hóa thành thịnh vượng nếu thiếu những doanh nghiệp có năng lực tổ chức sản xuất, đầu tư dài hạn và chinh phục thị trường.
Vì vậy, hành trình từ hơn 20.400 doanh nghiệp hiện nay đến mục tiêu 60.000-65.000 doanh nghiệp vào năm 2030 không chỉ là cuộc đua về số lượng. Đó còn là phép thử đối với chất lượng điều hành, sức bền của doanh nghiệp và hiệu quả kết nối các nguồn lực trong không gian phát triển mới.
Tầm vóc doanh nghiệp Gia Lai trong tương lai sẽ được xác định không chỉ bằng quy mô vốn, doanh thu hay số lượng doanh nghiệp thành lập, mà bằng giá trị tạo ra cho nền kinh tế, chất lượng việc làm, vị thế trên thị trường và những đóng góp lâu dài cho cộng đồng.