Thứ nhất, về lâu dài, chúng ta phải chuyển đổi mô hình sinh kế để thích ứng. Ví dụ, những vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn thì chúng ta chuyển sang sinh kế nước mặn, nước lợ phát triển thuỷ sản và cây trồng, chăn nuôi thích hợp với vùng mặn lợ. Quy tắc đầu tiên mang tính lâu dài là phải chuyển đổi sinh kế để thích ứng với tình hình mới. 

Thứ hai, chúng ta phải có giải pháp nâng cao năng lực dự báo để chỉ đạo sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Năm 2020 là năm chúng ta làm giải pháp thành công, như việc đã dự báo tốt hạn khá dài. Vì ngay từ tháng 9/2019, Chính phủ đã tổ chức hội nghị để ứng phó với tình hình hạn hán năm 2020. Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam đã làm tốt nhiệm vụ dự báo, từ đó chúng ta đã tham mưu để chỉ đạo sản xuất, tức là năm nay đã đẩy sản xuất lên sớm hơn trước 15 ngày, né tránh được thời gian hạn. Như vậy đã có một chỉ số rất quan trọng là năm nay diện tích thiệt hại chỉ là 7%.

Thứ ba, chúng ta có giải pháp công trình thích hợp, cụ thể việc tổ chức vận hành hợp lý công trình thủy lợi để tranh thủ lấy nước khi độ mặn ở mức cho phép để tăng cường tích trữ nước vào nội đồng, hệ thống kênh, khẩn trương đóng cống ngăn mặn xâm nhập khi độ mặn lên cao, đặc biệt tại các cống thuộc hệ thống thủy lợi Bảo Định (Tiền Giang), Nam Măng Thít (Trà Vinh, Vĩnh Long); hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp; Cống Âu thuyền Ninh Quới... Các giải pháp chuyển từ hệ thống cống trước đây là tự động sang cống cưỡng bức để chủ động lấy nước,một số giải pháp bơm, rồi người nông dân cũng chủ động các biện pháp bằng đắp đập tạm, chứa nước ở trong các kênh rạch, sử dụng nước tiết kiệm… Đó là những giải pháp công trình phù hợp.

Ông Hoàng Văn Thắng giới thiệu dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, Kiên Giang. Ảnh: Minh Hải

 

Theo nghiên cứu của Hội Mê Kông Quốc tế, cho tới nay lượng phù sa bùn cát về đồng bằng sông Cửu Long đã giảm tới gần 70%, họ dự báo nếu kịch bản không tốt thì có thể giảm trên 90%. Đặc biệt với đồng bằng sông Hồng, các hồ chứa cũng rất lớn, cho nên phù sa bùn cát còn rất ít. Và với lượng phù sa bùn cát không về  sẽ gây ra vấn đề lớn: Một là hạ thấp đáy các con sông, hạ thấp mực nước sông và tác hại của nó là gây sạt lở bờ sông, làm các hệ thống tưới nước không hoạt động được, như là các trạm bơm. Khu vực cửa sông ven biển sạt lở sẽ tăng, và đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

“Vậy nên, theo quan điểm của tôi là phải quan trắc rất tốt vấn đề diễn biến của phù sa bùn cát. Nhưng có lẽ tác hại cũng đã thấy rõ, vì thế phải giảm rất mạnh việc khai thác cát, phải có những biện pháp mạnh mẽ để chuyển việc sử dụng cát tự nhiên sang các giải pháp khác. Hạn chế sử dụng cát tự nhiên để san lấp, đây là vấn đề cần thiết và cấp bách, cần phải cảnh báo một cách mạnh mẽ. Nếu không vấn đề suy thoái của các con sông sẽ tiếp tục diễn ra, chúng ta sẽ phải chi phí rất tốn kém để ứng phó”, ông Thắng khẳng định.

Minh Hải