Viết tiếp bài báo “Hà Nội: Thụ lý đã 4 năm, Tòa loanh quanh… chưa xử vụ doanh nghiệp khởi kiện Cục Thuế”:

Tòa đã công tâm trong quá trình thụ lý vụ kiện?

Cập nhật: 14/06/2019 07:31

(Thanh tra)- Vụ án kiện hành chính này liên tiếp có những điều khó hiểu từ cơ quan hành chính, hành pháp của TP Hà Nội. Trong diễn biến mới đây, Tòa Hành chính TAND TP Hà Nội và UBND TP Hà Nội có văn bản trao đổi về việc “phối hợp xác minh vụ án hành chính” gây thêm nhiều thắc mắc trong dư luận, đặc biệt là sự “lệch chuẩn” trong xử lý vụ án này.

Tòa đã công tâm trong quá trình thụ lý vụ kiện?

Ngày 12/9/2016, Tập đoàn Bảo Sơn có đơn khởi kiện Cục Thuế TP Hà Nội và đã được TAND TP Hà Nội thụ lý bởi Quyết định số 43, ngày 10/10/2016.

Việc “rõ như ban ngày” là vậy, nhưng không hiểu sao Tòa Hành chính TAND TP HN chưa đưa vụ án ra xét xử.

Như trình bày của Tập đoàn Bảo Sơn, do vụ việc không được đưa ra xét xử, doanh nghiệp đã gặp đại diện TAND TP Hà Nội thì được biết, Tòa đã xin ý kiến của các cơ quan Tòa án cấp trên và đều đã có đường hướng chỉ đạo, tuy nhiên việc xét xử vẫn không được thực hiện và cơ quan Tòa án lại tiếp tục  hỏi thêm ý kiến từ UBND TP Hà Nội.

Ngày 31/5/2019, ông Lưu Tuấn Dũng – Phó Chánh án TAND TP Hà Nội ký Văn bản 1332 (về việc phối hợp xác minh vụ án hành chính) gửi UBND TP Hà Nội. Theo đó, ông Dũng để nghị UBND TP Hà Nội trả lời 2 câu hỏi:

1.Khi điều chỉnh đơn giá thuê đất đối với Tập đoàn Bảo Sơn, Cục Thuế Hà Nội đã báo cáo để UBND TP Hà Nội quyết định mức điều chỉnh theo quy định tại mục b, Khoản 2 Thông tư 77/2014/TT-BTC?

2.Trên địa bàn thành phố có bao nhiêu tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải điều chỉnh đơn giá thuê đất như Tập đoàn Bảo Sơn?

Sau khi nhận được văn bản này, ngày 11/6/2019 Văn phòng UBND TP Hà Nội có Văn bản 5307 truyền đạt ý kiến của ông Nguyễn Doãn Toản - Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội. Theo đó, giao Cục Thuế chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp và các đơn vị liên quan, tham mưu, đề xuất báo cáo…

Vậy có gì bất bình thường trong việc trao đổi này không? Câu trả lời là có, vì:

Theo trình bày của Tập đoàn Bảo Sơn, trong 2 hợp đồng mà doanh nghiệp ký với Hà Nội đều có nội dung quy định về nguyên tắc điều chỉnh giá thuê đất là: Tiền thuê đất được thay đổi khi Nhà nước hoặc UBND TP Hà Nội có quyết định thay đổi khung  giá đất. Về thẩm quyền Cục Thuế thực hiện là đúng, tuy nhiên để làm được điều này, Cục phải tuân thủ quy định tại Khoản 2, Điều 8, Thông tư 77/2014/TT-BTC (báo cáo và được sự đồng ý từ UBND TP Hà Nội việc điều chỉnh, tăng giá thuê đất không  quá 15% (hoặc tỷ lệ % điều chỉnh không vượt quá của kỳ ổn định trước đó, cụ thể trong trường hợp của Bảo Sơn là 0,7% - PV) và ổn định trong chu kỳ 5 năm…). Tuy nhiên, Cục Thuế Hà Nội đã không xin ý kiến của UBND TP Hà Nội và đưa ra mức giá thuê đất, chu kỳ thuê đất không đúng tinh thần của Thông tư 77.

Điều 9 Luật Tố tụng hành chính quy định, các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đồng thời, Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự.

 


 

Trong cuộc họp ngày 26/9/2018 tại TAND TP Hà Nội (kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ), trong số hồ sơ tài liệu được giao nộp, không có văn bản nào thể hiện Cục Thuế Hà Nội đã báo cáo, xin ý kiến về việc tăng thuế đất và điều chỉnh chu kỳ áp giá thuê đất ổn định như quy định của Thông tư 77. Lý do mà Cục Thuế đưa ra khi không báo cáo UBND TP Hà Nội trước khi tăng thuế đất với Bảo Sơn lại là: Không thấy Khoản 2, Điều 11, Nghị định 46/2014/NĐ-CP quy định. Ở đây, Cục Thuế đã nhầm lẫn trong thực hiện pháp luật, vì Khoản 2, Điều 11 Nghị định 46/2014/NĐ-CP chỉ quy định về  trường hợp có ý kiến khác nhau về đơn giá thuê đất giữa người thuê đất và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định đơn giá thuê đất (hành động này diễn ra sau hành động ban hành giá thuê đất).

Vậy, câu hỏi (1) của Phó Chánh án Lưu Tuấn Dũng là thừa và cũng là “hỏi nhầm địa chỉ” vì theo Điều 9 Luật Tố tụng hành chính đã nêu ở trên, Cục Thuế Hà Nội phải là người trả lời và cung cấp tài liệu, chứng cứ này, và họ đã khẳng định là không có.

Câu hỏi tiếp theo của ông Dũng cũng sẽ là “lạc đề” vì trên địa bàn thành phố dù có bao nhiêu tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải điều chỉnh đơn giá thuê đất như Tập đoàn Bảo Sơn cũng phải điều chỉnh đúng theo quy định của pháp luật, mà cụ thể ở đây là Khoản 2, Điều 8, Thông tư 77/2014/TT-BTC.

Về chỉ đạo của Phó Chủ tịch Nguyễn Doãn Toản tại Văn bản 5307 cũng “bất ổn”, vì ông Toản lại giao cho Cục Thuế Hà Nội (bị đơn trong vụ kiện) chủ trì với các đơn vị liên quan tham mưu UBND thành phố trả lời Tòa án.

Hơn nữa, ông Toản cũng là người liên quan, là đầu dẫn của vụ kiện này, khi vào thời điểm năm 2013 (với tư cách là Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội) ký Quyết định 5703/QĐ-STC phê duyệt đơn giá thuê đất cho Bảo Sơn tăng hơn 1.300%.

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, Luật Tổ chức Tòa án và đặc biệt cao nhất là Hiến pháp quy định rõ “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.

Việc chậm trễ xét xử vụ kiện hành chính giữa nguyên đơn Tập đoàn Bảo Sơn và bị đơn Cục Thuế Hà Nội quả có bất thường, cần được làm sáng tỏ. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin.

PV

cheap breitling replica best watches replica Breitling watches replica