Mùa xuân trên những làng nghề truyền thống

Cập nhật: 03/02/2019 08:05

(Thanh tra)- Cứ mỗi dịp Tết đến, Xuân về, cũng là lúc nhiều làng nghề thủ công truyền thống ở TP Hồ Chí Minh lại tất bật ngày đêm với công việc để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cung ứng cho thị trường Tết.

Mùa xuân trên những làng nghề truyền thống
Những ngày cận Tết Nguyên đán, người dân ở xã Lê Minh Xuân lại tất bật với công việc làm nhang để cung ứng hàng Tết. Ảnh: CN

Làng nhang Lê Minh Xuân vào vụ

Nằm trên con đường Mai Bá Hương, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, làng làm nhang (hương) Lê Minh Xuân đã tồn tại hơn 100 năm nay, là nơi sinh sống của gần 150 hộ gia đình. Khoảng thời gian cận Tết Nguyên đán là lúc các cơ sở làm nhang tại đây tất bật ngày đêm với công việc để có đủ sản phẩm cung ứng cho thị trường nhang Tết.

Hầu hết những cơ sở làm nhang ở xã Lê Minh Xuân đều sản xuất với quy mô vừa và nhỏ, nhân công lao động chủ yếu là các thành viên trong gia đình. Nghề làm nhang không những mang lại lợi ích về kinh tế, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống.

 

Những cây nhang được phơi dưới ánh nắng tạo thành một màu vàng nổi bật. Ảnh: CN

 

Theo những người làm nghề truyền thống này, ngày trước các hộ dân ở xã Lê Minh Xuân chủ yếu làm nhang bằng phương pháp thủ công là se nhang bằng tay, phương pháp này hiệu quả thấp. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, khi máy làm nhang bắt đầu xuất hiện, các hộ dân đã mạnh dạn đầu tư. Nhang được làm bằng máy cho thành phẩm đẹp, giảm được công lao động và cho năng suất cao hơn nhiều lần so với phương pháp thủ công.

Anh Lê Văn Huân, một người làm nhang lâu năm ở xã Lê Minh Xuân cho biết, tất cả các cơ sở làm nhang tại đây đều sản xuất nhang không mùi. Sau khi hoàn thành các công đoạn, nhang được buộc thành từng bó với số lượng 1.000 cây để giao cho các đại lý. Các đại lý sau khi nhận nhang về sẽ tiến hành phun chất để tạo ra mùi thơm đặc trưng cho cây nhang và gắn nhãn hiệu nhang.

Nói về quy trình để tạo ra một cây nhang thành phẩm, anh Huân chia sẻ, ngày nay nhờ có máy móc, trang thiết bị nên quy trình làm nhang trở nên khá đơn giản. Chỉ cần có máy trộn, máy ép và máy sấy là có thể sản xuất được nhang. Còn nguyên liệu bột nhang hay tăm nhang thì đều có nhà cung cấp mang đến tận nơi.

Là chủ cơ sở có truyền thống làm nhang gần 20 năm, anh Hoàng Tiến Dũng (xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh) cho biết, để làm ra một cây nhang thành phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, trong đó quan trọng nhất là công đoạn trộn bột nhang. Bột nhang đạt chuẩn phải mịn, có độ kết dính và độ ẩm vừa phải, khi dùng máy để sấy hay phơi nắng nhang sẽ nhanh khô.

“Nghề này thì làm quanh năm, nhưng thời điểm đắt hàng nhất là vào khoảng tháng Giêng, tháng 7 âm lịch và cận Tết Nguyên đán. Để có hàng cung ứng cho thị trường Tết, thời điểm này các cơ sở làm nhang ở đây đều rất tất bật, hoạt động liên tục để kịp hàng cho thương lái”, anh Dũng chia sẻ.

Rộn ràng làng lư đồng hơn 100 năm

Cũng giống như làng nhang Lê Minh Xuân, tìm đến làng nghề truyền thống đúc lư đồng An Hội trên đường Nguyễn Duy Cung, phường 12, quận Gò Vấp vào những ngày cuối năm, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân đang đến thật gần. Mặc dù không còn hưng thịnh như ngày xưa, nhưng cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về nơi đây lại trở nên rộn ràng, nhộn nhịp hơn.

Bà Phạm Thị Liên, chủ cơ sở Lư đồng Ba Cồ cho biết, bà đã gắn bó với nghề đúc lư đồng này hơn 30 năm. Từ ngày bà về làm dâu ở làng An Hội đã chứng kiến biết bao nhiêu câu chuyện thăng trầm với nghề, thậm chí có những giai đoạn rất khó khăn tưởng chừng như phải bỏ nghề.

 

Để tạo ra được một bộ lư đồng hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Ảnh: CN

 

Làng nghề đúc lư đồng An Hội vào thời kỳ hưng thịnh có đến 50 cơ sở đúc lư đồng với hàng trăm công nhân làm việc. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, cùng với quá trình đô thị hóa, ngày nay An Hội chỉ còn 5 cơ sở còn gắn bó với nghề là: Hai Thắng, Ba Cồ, Năm Toàn, Sáu Bảnh và Quốc Kiển. Các cơ sở này chủ yếu là anh em họ hàng, với mong muốn bảo tồn và phát triển nghề truyền thống lâu đời mà cha ông đã để lại.

Theo bà Liên, làng đúc lư đồng An Hội đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm. Người khởi nguồn của nghề đúc lư đồng ở An Hội chính là cha chồng của bà, ông Trần Văn Kỉnh (hay còn gọi là Năm Kỉnh). Lúc sinh thời, ông Kỉnh đã đi khắp nơi để học nghề đúc đồng với mục đích kiếm kế sinh nhai. Sau khi học được nghề, ông trở về làng An Hội mở cơ sở đúc lư đồng và truyền dạy nghề cho anh em, bà con họ hàng.

Lư đồng An Hội có nhiều kích cỡ, mẫu mã khác nhau, nhưng chủ yếu phân thành 2 loại chính là lư hình dáng tròn và lư vuông. Trung bình mỗi tháng, một cơ sở tại đây cho ra lò từ 200 - 300 bộ lư đồng, mỗi bộ có giá giao động từ 3 - 20 triệu đồng, tùy vào kích cỡ lớn, nhỏ, hình dáng, độ tinh xảo của họa tiết hoa văn hay kết cấu của bộ lư…

 

Giai đoạn làm hàng Tết nên các cơ sở lư đồng ở làng nghề An Hội phải làm việc liên tục để đủ nguồn hàng cung ứng cho thị trường. Ảnh: CN

 

Theo những người làm nghề đúc lư đồng ở An Hội, để hoàn thành một bộ lư đồng phải mất khoảng 20 ngày. Đầu tiên là làm khuôn ruột bằng đất sét, rồi đúc khuôn sáp; tiếp đến là bao bọc 2 lớp đất sét bên ngoài khuôn sáp; sau đó phơi khô khuôn, rồi đổ đồng đã nóng chảy vào khuôn. Cuối cùng là đập bỏ khuôn đất, làm nguội sản phẩm và mài giũa, chạm khắc hoa văn, đánh bóng.

Bà Liên chia sẻ, nghề này khá vất vả, bởi để tạo ra được một bộ lư đồng hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Tất cả đều làm thủ công nên đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật tay nghề cao và kiên trì, khéo léo; đặc biệt phải thật sự đam mê, yêu nghề thì mới có thể tạo ra những sản phẩm đẹp và có chất lượng.

Cảnh Nhật

cheap breitling replica best watches replica Breitling watches replica